Giảm thiểu rủi ro của công nghệ số cho nhóm yếu thế

Trong bối cảnh khoảng trống hạ tầng và pháp lý khiến các nhóm yếu thế có nguy cơ bất bình đẳng số, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải đưa quyền con người vào tâm điểm của công nghệ thay vì tạo ra những rào cản mới cho người nghèo, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số.

"Khoảng trống" hạ tầng

Tại hội thảo “Tận dụng cơ hội và giảm thiểu rủi ro của công nghệ số đối với các nhóm dân cư trong xã hội” sáng 12/1 tại Hà Nội, ông Nguyễn Minh Hồng - Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) cho biết, năm 2025, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 6 trên 40 quốc gia trong bảng xếp hạng chỉ số AI toàn cầu. Công nghệ số không chỉ lan tỏa sâu rộng trong đời sống mà còn trở thành chiến lược cốt lõi của doanh nghiệp với tỷ lệ tích hợp cao hơn mặt bằng chung khu vực. Dự báo đến năm 2030, nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin tập trung vào AI, dữ liệu lớn và an ninh mạng tại Việt Nam sẽ chạm mốc 2 triệu người.

Tuy nhiên, sự phát triển không ngừng của công nghệ số dẫn đến nhiều thách thức cốt lõi, đặt ra những thách thức làm gia tăng bất bình đẳng và tác động bất lợi đến các nhóm lao động dễ bị tổn thương.

Ông Nguyễn Minh Hồng - Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA).

TS Lương Thu Hiền - Phó Viện trưởng, Viện Quyền Con người, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giới và Quyền Phụ nữ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mới như khoảng cách số giữa các vùng, các nhóm xã hội, nguy cơ bất bình đẳng số, rủi ro về quyền riêng tư, an toàn thông tin cũng như tác động của truyền thông số đối với các giá trị văn hóa, xã hội và quyền con người. Đặc biệt đối với người nghèo, người lao động phi chính thức, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số.

Nói rõ hơn về những thách thức, ông Nguyễn Đức Lam - Cố vấn chính sách Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) cho biết, Việt Nam vẫn còn hàng trăm thôn bản là "vùng lõm sóng" – nơi Internet vẫn là một khái niệm xa xỉ.

Đặc biệt, sự vắng bóng ngôn ngữ của hơn 50 dân tộc thiểu số trên môi trường mạng khiến AI thiếu dữ liệu về các cộng đồng này, từ đó vô tình tước đi cơ hội tiếp cận tri thức công bằng của đồng bào.

Ông Nguyễn Đức Lam - Cố vấn chính sách Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS).

Ông Nguyễn Đức Lam - Cố vấn chính sách Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS).

Theo ông Lam, với nhóm ao động nền tảng, các tài xế công nghệ đang rơi vào vị thế bất lợi khi thu nhập và điều kiện làm việc bị chi phối hoàn toàn bởi thuật toán phân bổ đơn hàng và mức chiết khấu. Việc thiếu bảo trợ xã hội khiến họ trở thành nhóm lao động dễ bị tổn thương nhất trong nền kinh tế số.

Với phụ nữ và trẻ em, đánh giá của UNESCO năm 2025 cho thấy phụ nữ Việt Nam vẫn thua thiệt so với nam giới về cả tiếp cận hạ tầng thiết bị lẫn năng lực tham gia khoa học công nghệ. Tình trạng bạo lực giới liên quan đến công nghệ và lừa đảo trực tuyến đang diễn biến nghiêm trọng nhưng lại ít được thảo luận công khai.

Trong khi đó, người khuyết tật và người nghèo đối diện rào cản về chi phí thiết bị, kỹ năng số và thiết kế giao dịch trực tuyến chưa thân thiện đang khiến các dịch vụ công số trở nên khó tiếp cận với những nhóm cần đến chúng nhất.

Đề xuất áp dụng nguyên tắc Pareto 80/20

Theo TS Lương Thu Hiền, trên bình diện quốc tế, các diễn đàn đa phương của Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế đã nhấn mạnh chuyển đổi số cần được định hướng bởi cách tiếp cận dựa trên quyền con người, lấy con người làm trung tâm, bảo đảm tính bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau. Những vấn đề như quyền riêng tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền tiếp cận thông tin, quyền văn hóa trên không gian số cũng như tác động của công nghệ số đối với việc làm và an sinh xã hội đang trở thành nội dung thảo luận trọng tâm trên toàn cầu.

TS Lương Thu Hiền - Phó Viện trưởng, Viện Quyền Con người, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giới và Quyền Phụ nữ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta đã xác định chuyển đổi số là một nhiệm vụ chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể và là mục tiêu của phát triển.

Để hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số bao trùm, các diễn giả đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ từ kỹ thuật, xã hội đến chính sách pháp luật.

Bà Đỗ Thanh Huyền - Chuyên gia phân tích chính sách công của UNDP tại Việt Nam đề xuất áp dụng nguyên tắc Pareto 80/20. Trong đó, dù đẩy mạnh 80% dịch vụ trực tuyến, Chính phủ vẫn phải duy trì ít nhất 20% dịch vụ trực tiếp cho những người không có khả năng tiếp cận công nghệ. Bên cạnh đó, việc học hỏi các mô hình quốc tế là cần thiết. Dịch vụ công số cần được thiết kế tối giản, sử dụng các gam màu tương phản (xanh dương, đen, cam) để hỗ trợ cả người khiếm thị và người mù màu.

Xây dựng "tế bào" dữ liệu sạch và pháp luật thực chất quản trị dữ liệu phải đảm bảo 4 yếu tố "Đúng - Đủ - Sạch - Sống". Đây là nền tảng để AI và các thuật toán vận hành không thiên kiến.

Các chuyên gia cũng kêu gọi thực thi quyết liệt các đạo luật vừa ban hành như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Giao dịch điện tử và sớm hoàn thiện Luật AI để tạo khuôn khổ pháp lý minh bạch cho các thuật toán.

Đại diện Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), ông Nguyễn Hải Đạt nhấn mạnh vào việc bảo vệ quyền của người lao động bị mất việc hoặc thay đổi công việc do AI. Các hàm ý chính sách bao gồm hỗ trợ đào tạo lại kỹ năng số và học tập suốt đời cho lao động trong các ngành dễ bị thay thế. Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ xây dựng hệ sinh thái số có trách nhiệm. Thúc đẩy đối thoại xã hội giữa người lao động và người sử dụng lao động trong mọi cấp độ chuyển đổi số.

Ông Nguyễn Đức Lam đề xuất lồng ghép giá trị quyền con người vào suốt vòng đời công nghệ. Về kỹ thuật, cần có công cụ ngăn chặn lạm dụng và bảo vệ thông tin cá nhân. Về xã hội, cần xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức cộng đồng, nâng cao nhận thức và kỹ năng an toàn số cho người dân.

“Công nghệ phục vụ con người chứ không phải con người phục vụ công nghệ. Sự phát triển công nghệ không thể tách rời sự phát triển của giá trị nhân văn. Thay vì chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ thiết bị, mục tiêu cao hơn phải là nâng cao năng lực số và bảo vệ an toàn cho từng công dân. Chỉ khi giá trị con người được mở rộng, các rủi ro từ công nghệ mới có thể thu hẹp lại.

Giống như mô hình của Bhutan, chỉ số hạnh phúc mới là thước đo cuối cùng của một quốc gia phát triển, cho dù đó là xã hội số hay bất kỳ hình thái xã hội nào khác trong tương lai”, ông Lam nhấn mạnh.

Nguyệt Minh

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/cong-nghe/giam-thieu-rui-ro-cua-cong-nghe-so-cho-nhom-yeu-the/20260112113543842