'Giành lại' tuổi xuân cho những đứa trẻ (bài 3)
Bài 3: Từ “chuyện riêng” thành nhiệm vụ chính trị
Bài 2: Những đứa trẻ thiếu tên cha
ĐBP- Từng được xem là “chuyện riêng” của mỗi gia đình, tảo hôn đã trở thành vấn đề chung của cả hệ thống chính trị. Nhận diện rõ những hệ lụy và nguyên nhân của vấn nạn này, lần đầu tiên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Điện Biên ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TU ngày 8/5/2026 về phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2026 - 2030. Nghị quyết không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị của tỉnh mà còn mở ra cách tiếp cận mới trong phòng, chống tảo hôn, lấy phòng ngừa là chính, giải quyết tận gốc các nguyên nhân và phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, cộng đồng dân cư.

Ở các bản vùng cao Điện Biên, tình trạng tảo hôn vẫn còn khá phổ biến. Trong ảnh: Một góc bản Tìa Ló, xã Pu Nhi.
Không còn là chuyện mỗi nhà
Suốt nhiều năm, tảo hôn thường được xem là “chuyện riêng” của mỗi gia đình, gắn với phong tục, tập quán, nhận thức và điều kiện sống ở từng địa bàn. Quan niệm này phần nào khiến công tác phòng, chống gặp không ít trở ngại, bởi phía sau mỗi trường hợp kết hôn sớm còn là những nguyên nhân xã hội cần được nhận diện và giải quyết. Vì vậy, muốn ngăn chặn tảo hôn bền vững, không thể chỉ dừng ở việc vận động từng hộ, từng cặp đôi mà cần có sự chung tay của chính quyền, nhà trường, gia đình và cộng đồng.
Số liệu tại một số địa bàn càng cho thấy yêu cầu ấy trở nên cấp thiết. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xã Mường Nhé có 24/66 người kết hôn là tảo hôn; tại Tìa Dình con số đó là 13/24 người, chiếm 54,2%; Phình Giàng có 11/44 người; Sín Chải 44/90 người; Sáng Nhè 57/140 người... Những con số ấy không chỉ cho thấy mức độ phổ biến của tảo hôn ở một số địa bàn, mà còn cho thấy vấn đề đã vượt khỏi phạm vi quyết định của từng gia đình.
Ông Lường Văn Phượng, Phó Chủ tịch UBND xã Phình Giàng cho biết, tảo hôn trên địa bàn đã không còn là những trường hợp riêng lẻ của từng gia đình mà đã trở thành vấn đề cần sự chung tay của cả cộng đồng. Khi tình trạng này xuất hiện ở nhiều hộ, những hệ lụy cũng không dừng lại ở cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ, mà ảnh hưởng đến việc học của trẻ em, cơ hội việc làm của thanh niên và tương lai phát triển của địa phương. Khi những hệ lụy ngày càng rõ, tảo hôn cần phải được nhìn nhận đúng bản chất, đánh giá đúng mức độ để từ đó có giải pháp xử lý căn cơ, lâu dài.
Những gì diễn ra ở các xã trên đã phản ánh một thực tế kéo dài ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Diễn biến trong 5 năm qua cho thấy tảo hôn vẫn là bài toán dai dẳng. Tỷ lệ tảo hôn lần lượt ở mức 31,7% năm 2021; 24,6% năm 2022; 32% năm 2023; 24,6% năm 2024 và 31,5% năm 2025. Tỷ lệ có năm giảm, năm tăng cho thấy những nỗ lực tuyên truyền, vận động thời gian qua đã tạo chuyển biến nhưng chưa đủ để phá vỡ những nguyên nhân khiến tảo hôn tái diễn.
Thực tế đó cũng cho thấy Điện Biên không phải đến năm 2026 mới quan tâm đến vấn đề này. Ngày 29/9/2015, UBND tỉnh đã ban hành Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên, giai đoạn 2015 - 2025”, đặt mục tiêu đến năm 2025 không còn tảo hôn, giảm thiểu tình trạng hôn nhân cận huyết thống. Cùng với đó là nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giáo dục trong trường học, tư vấn sức khỏe sinh sản, vận động tại cộng đồng và phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín. Những cách làm này tạo chuyển biến nhất thời, nhưng tỷ lệ tảo hôn vẫn ở mức cao cho thấy vấn đề chưa được giải quyết tận gốc.
Tảo hôn chưa giảm ổn định, cho thấy nếu chỉ tập trung vào tuyên truyền, vận động hoặc xử lý từng trường hợp thì khó tạo ra sự thay đổi bền vững. Vấn đề cần được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn, gắn với những điều kiện kinh tế, giáo dục, việc làm, nhận thức và môi trường sống. Vì vậy, ngày 8/5/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Điện Biên ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TU về phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2026 - 2030. Nghị quyết xác định mục tiêu giảm tỷ lệ tảo hôn từ 5 - 6% mỗi năm, đồng thời đặt phòng, chống tảo hôn trong trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu, các ngành, đoàn thể và cộng đồng.
Sau khi Nghị quyết 27-NQ/TU được ban hành, cách phòng, chống tảo hôn ở cơ sở cũng bắt đầu thay đổi. Nếu trước đây, việc xử lý thường tập trung vào những trường hợp đã có ý định cưới, cán bộ đến từng gia đình tuyên truyền, vận động thì nay yêu cầu được đặt sớm hơn, rộng hơn và cụ thể hơn. Từ việc ngăn một đám cưới, các ngành, địa phương chuyển sang nhận diện nguy cơ, tìm nguyên nhân và phân công trách nhiệm cho từng lực lượng. Gia đình, nhà trường, chính quyền, đoàn thể, người có uy tín và cộng đồng cùng trở thành những “điểm chặn” trước khi một cuộc hôn nhân sớm hình thành.
Giải quyết vấn đề từ gốc
Phía sau mỗi cuộc hôn nhân sớm là nhiều nguyên nhân đan xen, từ phong tục, tập quán, hoàn cảnh kinh tế, nhận thức, giáo dục, việc làm đến tâm lý của mỗi người. Vì thế, muốn giảm tảo hôn không thể chỉ dừng ở việc ngăn một đám cưới khi đã cận kề, mà phải tìm đúng nguyên nhân để tháo gỡ từ sớm.
Tại xã Pú Nhung, 6 tháng đầu năm 2026, trong 16 người kết hôn có 9 người tảo hôn. Trước thực tế đó, cấp ủy, chính quyền xã không chỉ tập trung vào việc vận động từng trường hợp mà nhìn vấn đề rộng hơn: Vì sao thanh niên kết hôn sớm? Vì sao có em bỏ học? Gia đình đang gặp khó khăn gì? Người trẻ sau khi rời trường có nghề nghiệp, việc làm hay không?... Từ cách nhìn đó, phòng, chống tảo hôn được gắn với giảm nghèo, phát triển sản xuất, đào tạo nghề và tạo việc làm.
Anh Lầu A Chá, bản Pú Nhung, xã Pú Nhung cho biết, cấp ủy, chính quyền xã quan tâm tổ chức đào tạo nghề, tạo việc làm cho người dân, nhất là thanh niên. Đây cũng là một trong những giải pháp giúp người trẻ có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, từ đó có thêm lựa chọn cho tương lai thay vì kết hôn sớm. Tháng 4/2026, xã Pú Nhung phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên 2 tỉnh tổ chức khai giảng lớp kỹ thuật gò, hàn, thu hút gần 20 lao động tham gia, chủ yếu là thanh niên.
Đây cũng là cách làm đang được nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh thực hiện. Thực tế cho thấy giảm tảo hôn không thể tách rời giảm nghèo và tạo sinh kế. Khi một gia đình có nguồn thu nhập ổn định, cha mẹ có thêm điều kiện cho con học tập; khi thanh niên có nghề, có việc làm, họ có thêm khả năng tự lập và hoạch định tương lai. Chính vì vậy, những chính sách giảm nghèo, phát triển sản xuất, đào tạo nghề, tạo việc làm là những giải pháp phòng ngừa tảo hôn từ xa.

Cán bộ văn hóa xã Pu Nhi tuyên truyền về phòng chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống cho người dân.
Chỉ tính riêng Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, bình quân mỗi năm tỉnh có hơn 7.700 lao động được đào tạo nghề, 2.432 hộ được hỗ trợ chuyển đổi nghề, gần 30.000 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán, hàng chục nghìn hộ được vay vốn ưu đãi. Toàn tỉnh triển khai 898 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, từng bước nâng thu nhập và cải thiện đời sống người dân.
Những kết quả ấy không thể đo đếm ngay bằng số vụ tảo hôn giảm trong một năm, nhưng lại tạo nền tảng cho sự thay đổi lâu dài. Nếu kinh tế là “gốc” của tảo hôn thì giáo dục chính là “điểm chặn” quan trọng. Vì vậy, cùng với phát triển kinh tế, Điện Biên đang tăng cường vai trò của nhà trường trong phòng ngừa tảo hôn, không chỉ bằng tuyên truyền mà còn tạo môi trường để học sinh được học tập, định hướng nghề nghiệp và có thêm lựa chọn cho tương lai.
Theo bà Hoàng Tuyết Ban, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, đến năm 2030, 100% cơ sở giáo dục phải tổ chức tuyên truyền phòng, chống tảo hôn, đồng thời duy trì, nhân rộng các mô hình “Trường học không có tảo hôn”, “Học sinh nói không với tảo hôn”. Quan trọng hơn, nhà trường phải phát hiện sớm những trường hợp có nguy cơ nghỉ học để kết hôn, gia đình chuẩn bị ăn hỏi hoặc học sinh có dấu hiệu bị ép cưới để phối hợp can thiệp.
Không chỉ gia đình, nhà trường hay chính quyền, cộng đồng cũng cần trở thành một “điểm chặn” tảo hôn. Đây là hướng Điện Biên đang triển khai thông qua 59 câu lạc bộ tuyên truyền phòng, chống tảo hôn và các mô hình “Dòng họ không có tảo hôn”, “Bản không có tảo hôn”, “Xã, phường không có tảo hôn, không có hôn nhân cận huyết thống”. Trên cơ sở Nghị quyết 27-NQ/TU, xã Mường Nhé đã xây dựng và triển khai mô hình điểm về “Nói không với tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống” tại bản Nậm Là. Mô hình nhằm nâng cao nhận thức của người dân, nhất là thanh thiếu niên và các bậc cha mẹ, về những hệ lụy của tảo hôn; đồng thời phát huy vai trò của người có uy tín, trưởng bản, các tổ chức đoàn thể trong vận động, nhắc nhở từng gia đình.
Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Thanh Sơn cho rằng, không chỉ tuyên truyền quy định pháp luật, các mô hình còn hướng tới hình thành những chuẩn mực mới trong cộng đồng, trong đó việc trẻ được học tập, thanh niên có nghề nghiệp, việc làm và cơ hội lập nghiệp được coi là những giá trị cần khuyến khích. Khi chuẩn mực cộng đồng thay đổi, sự đồng thuận và sức ép tích cực từ cộng đồng sẽ góp phần ngăn tảo hôn từ sớm.
Cùng với phòng ngừa, việc xử lý các hành vi vi phạm cũng phải được thực hiện nghiêm minh, tạo hành lang pháp lý. Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu cơ quan thực thi pháp luật thực hiện khởi tố, xét xử điểm một số vụ án liên quan đến các trường hợp giao cấu với người chưa đủ tuổi theo quy định, nhằm tuyên truyền, răn đe và nâng cao nhận thức về pháp luật hôn nhân, gia đình.
Từ một vấn đề từng bị xem là “chuyện riêng” của gia đình, tảo hôn đang được Điện Biên giải quyết bằng trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Nghị quyết 27-NQ/TU không chỉ đặt ra yêu cầu ngăn chặn, xử lý vi phạm, mà quan trọng hơn là giải quyết những nguyên nhân từ gốc: Giảm nghèo, tạo sinh kế, giữ trẻ ở trường, mở cơ hội học nghề và thay đổi chuẩn mực cộng đồng. Bởi ngăn một đám cưới sớm mới chỉ là xử lý phần ngọn; tạo cho người trẻ một tương lai đủ rộng để lựa chọn mới là giải pháp căn cơ, bền vững từ gốc.
Bài, ảnh: Võ Văn Tâm
Bài 4: Mùa xuân ở lại

