Giáo dục bắt buộc 9 năm: Bước đi cần thiết nhưng không dễ dàng
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố Dự thảo Nghị định quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, trong đó có việc việc thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm đang thu hút nhiều ý kiến của các chuyên gia và dư luận xã hội.
Giáo dục bắt buộc 9 năm là một chủ trương lớn nhằm bảo đảm mọi trẻ em đều được học ít nhất hết bậc trung học cơ sở, qua đó nâng cao mặt bằng dân trí và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương Mại, Bộ Công thương, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng), thì để thực hiện được mục tiêu này không chỉ là vấn đề chính sách mà còn liên quan đến nguồn lực, cách quản lý và sự đồng thuận của xã hội.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương Mại, Bộ Công thương, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng. Ảnh: Ngô Hiển
Với nhiều năm tham gia trong Ban Nghiên cứu của Thủ tướng và đi nghiên cứu mô hình nhiều nước, ông cho rằng việc phổ cập giáo dục không phải là điều mới mẻ trên thế giới. "Ở Thụy Điển, họ đã thực hiện phổ cập giáo dục từ rất lâu rồi. Ngay từ những năm 90, khi tôi có dịp sang đó công tác, hệ thống giáo dục của họ đã bảo đảm gần như tất cả trẻ em đều được đến trường," ông chia sẻ. Theo ông, ở những quốc gia Bắc Âu, giáo dục phổ cập không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của công dân, và nhà nước phải chịu trách nhiệm bảo đảm điều đó.
Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, phổ cập giáo dục không chỉ dừng lại ở việc "cho trẻ đi học". Nó đòi hỏi cả một hệ thống chính sách đồng bộ: từ tài chính công, phúc lợi xã hội đến quản lý giáo dục. Ở Thụy Điển, ngoài việc trẻ em được đi học miễn phí, nhiều dịch vụ xã hội khác cũng được bảo đảm như chăm sóc y tế, hỗ trợ gia đình, hay các chương trình phúc lợi cho trẻ em. Chính những yếu tố này giúp giảm thiểu nguy cơ học sinh bỏ học và bảo đảm việc học tập được duy trì liên tục.
Tại Việt Nam, việc phổ cập giáo dục đã đạt được nhiều kết quả đáng kể trong những thập niên qua, đặc biệt ở bậc tiểu học. Tuy nhiên, việc tiến tới giáo dục bắt buộc 9 năm - tức là hoàn thành cả bậc trung học cơ sở vẫn còn nhiều thách thức.
Một trong những vấn đề lớn là sự chênh lệch giữa các vùng miền, nhất là ở khu vực miền núi và vùng khó khăn. Nếu giáo dục trở thành nghĩa vụ bắt buộc trong 9 năm, nhà nước cần có cơ chế kiểm soát và hỗ trợ chặt chẽ hơn. Điều này bao gồm việc theo dõi quá trình học tập của học sinh, phát hiện sớm nguy cơ bỏ học, cũng như có chính sách hỗ trợ phù hợp.
Nếu đã quy định bắt buộc thì không thể để tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng. Nhà nước phải có trách nhiệm giúp các em tiếp tục học"
PGS.TS Nguyễn Văn Nam
Một vấn đề quan trọng khác là hỗ trợ học sinh nghèo. Trong thực tế, nhiều gia đình ở vùng nông thôn hoặc vùng khó khăn vẫn gặp trở ngại về kinh tế khi cho con đi học. Dù học phí có thể được miễn giảm, nhưng các chi phí khác như sách vở, sinh hoạt, hay đi lại vẫn là gánh nặng. Vì vậy, muốn thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm một cách thực chất, nhà nước phải có chính sách hỗ trợ trực tiếp cho những học sinh thuộc diện khó khăn.
Ông chia sẻ: "Ở Việt Nam, trong nhiều trường hợp phải 'nuôi' học sinh thì các em mới có thể tiếp tục học". Điều này có thể bao gồm các hình thức như học bổng, hỗ trợ ăn ở, hoặc các chương trình bán trú và nội trú cho học sinh ở vùng sâu vùng xa. Nếu không có những chính sách này, việc phổ cập giáo dục sẽ khó đạt hiệu quả như mong muốn.

Học sinh dân tộc thiểu số miền núi vẫn còn nhiều rào cản để theo đuổi học vấn cao.
Bên cạnh vấn đề tài chính, quản lý giáo dục cũng là yếu tố then chốt. Trước đây, việc hỗ trợ giáo dục nhiều khi phụ thuộc vào nỗ lực của từng địa phương. Có nơi thực hiện rất tốt, nhưng cũng có nơi gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực hoặc thiếu cơ chế quản lý hiệu quả. Vì vậy, khi chuyển sang giai đoạn giáo dục bắt buộc 9 năm, cần có một hệ thống quản lý thống nhất và minh bạch hơn.
Một vấn đề đặt ra là Việt Nam cần tăng bao nhiêu nguồn lực để thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm. Theo ông, vấn đề không chỉ nằm ở tổng ngân sách Trung ương mà còn ở cách phân bổ và sử dụng nguồn lực. Trong nhiều trường hợp, các địa phương hoàn toàn có thể chủ động triển khai các chương trình hỗ trợ giáo dục từ nguồn ngân sách của mình, ngân sách từ xã hội và nguồn lực bên ngoài. Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, ngân sách dành cho giáo dục của Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, nhu cầu của hệ thống giáo dục cũng ngày càng lớn, đặc biệt khi xã hội phát triển và yêu cầu về chất lượng giáo dục ngày càng cao. Vì vậy, việc cân đối giữa phổ cập giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục là một bài toán không dễ.
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, phổ cập giáo dục thường là bước đầu để nâng cao mặt bằng dân trí. Song song với nó là tập trung vào cải thiện chất lượng dạy và học. Do đó cần một chính sách dài hạn, hệ thống giáo dục bền vững, mọi trẻ em đều có cơ hội học tập, đồng thời vẫn bảo đảm chất lượng đào tạo.
Từ góc nhìn của ông, dự thảo giáo dục bắt buộc 9 năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo là một bước đi đúng hướng. Nó phù hợp với xu thế phát triển của nhiều quốc gia và đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, để chính sách này đi vào thực tế, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nguồn lực, cơ chế quản lý và các chính sách hỗ trợ xã hội.
"Chủ trương thì đúng, nhưng muốn làm được thì ngoài có kinh phí và phải có cách làm hiệu quả, làm đến nơi đến chốn" - ông nhấn mạnh. Điều đó có nghĩa là giáo dục bắt buộc không chỉ là một quy định pháp lý, mà phải trở thành một cam kết thực sự của nhà nước và toàn xã hội đối với thế hệ trẻ.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, việc đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ cập - được xem là nền tảng quan trọng cho tương lai. Nếu được triển khai hiệu quả, chính sách giáo dục bắt buộc 9 năm không chỉ giúp bảo đảm quyền học tập của trẻ em mà còn góp phần tạo ra một lực lượng lao động có trình độ, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.












