Giáo dục đại học trước tác động của trí tuệ nhân tạo
Trí tuệ nhân tạo (AI) đặt ra yêu cầu mới đối giáo dục đại học, từ đào tạo, quản trị đến gắn kết với doanh nghiệp nhằm phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn, tư duy phản biện và khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường lao động.

Ảnh minh họa (Nguồn: NUS Business School)
Đào tạo năng lực thích ứng trí tuệ nhân tạo
Ngày 11/8/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1528/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035. Chương trình đặt mục tiêu người lao động được trang bị kỹ năng trí tuệ nhân tạo cho khoảng 10 triệu người vào năm 2030.
Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, bên cạnh việc trang bị kỹ năng công nghệ, các cơ sở giáo dục cần quan tâm đến khả năng vận dụng kiến thức và thích ứng với những thay đổi trong môi trường làm việc.
Theo Tiến sĩ Tan Hong Ming, Trợ lý hiệu trưởng phụ trách Vận hành số tại Trường Kinh doanh thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS Business School), khi trí tuệ nhân tạo ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong doanh nghiệp, sinh viên cần biết sử dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả công việc.
“Hiểu biết về trí tuệ nhân tạo mới chỉ là điểm khởi đầu. Một doanh nghiệp có thể đào tạo tất cả nhân viên sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo nhưng vẫn không đạt được nhiều cải thiện về năng suất nếu các quy trình và phương thức quản lý không thay đổi. Đây là lý do năng lực lãnh đạo cũng quan trọng không kém các kỹ năng kỹ thuật”, Tiến sĩ Tan chia sẻ.

Tiến sĩ Tan Hong Ming, Trợ lý hiệu trưởng phụ trách Vận hành số tại Trường Kinh doanh thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS). (Ảnh: TQ)
Những thay đổi do trí tuệ nhân tạo mang lại đặt ra yêu cầu đối với các cơ sở giáo dục đại học trong việc xem xét nội dung đào tạo và cách thức người học tiếp thu, vận dụng kiến thức. Giáo sư Teo Chung Piaw, Hiệu trưởng Trường Kinh doanh thuộc Đại học Quốc gia Singapore, cho rằng các trường kinh doanh cần xem xét không chỉ sinh viên nên học gì mà còn cả cách họ tiếp thu kiến thức và vận dụng những gì đã học.
Theo ông, việc đưa công nghệ mới vào các phương pháp giảng dạy hiện có chưa đủ để bảo đảm chất lượng học tập được cải thiện. Trí tuệ nhân tạo cần được sử dụng để tạo thêm cơ hội cho sinh viên tư duy phản biện, tiếp cận các quan điểm khác nhau và rèn luyện khả năng phán đoán độc lập.
Tại Trường Kinh doanh NUS, mô hình mô phỏng kinh doanh ứng dụng trí tuệ nhân tạo đang được thử nghiệm cho học viên các chương trình Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) và MBA Điều hành. Mô hình sử dụng ScholAIstic, nền tảng trí tuệ nhân tạo tạo sinh do Trung tâm Công nghệ Giáo dục trí tuệ nhân tạo AI của NUS phát triển, được điều chỉnh để phục vụ đào tạo quản trị. Trong mô hình này, các nhân vật lãnh đạo doanh nghiệp được mô phỏng bằng trí tuệ nhân tạo sẽ phỏng vấn học viên trước khi họ đưa ra các khuyến nghị kinh doanh.
Bên cạnh đào tạo sinh viên, các chương trình sau đại học và đào tạo điều hành cũng tạo cơ hội để người đi làm, các nhà quản lý cập nhật kiến thức và phát triển năng lực cần thiết để quản lý những thay đổi về công nghệ và tổ chức.
Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Fortune Media, cựu học viên chương trình MBA của NUS, bà Phạm Kiều Oanh cho biết trong những giá trị của chương trình MBA là giúp người học tiếp cận các thách thức kinh doanh từ nhiều góc độ khác nhau.
Theo bà, khi trí tuệ nhân tạo làm thay đổi cách thức vận hành của các tổ chức, khả năng đặt câu hỏi phản biện đối với những giả định sẵn có, đánh giá thông tin và đưa ra nhận định sáng suốt càng trở nên quan trọng. Đây là những năng lực không phụ thuộc vào bất kỳ công nghệ cụ thể và vẫn giữ vai trò thiết yếu đối với các nhà lãnh đạo trong môi trường kinh doanh nhiều biến động.
Phát triển đại học số, lấy dữ liệu làm nền tảng
Cùng với đổi mới phương pháp đào tạo, chuyển đổi số đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức quản trị và vận hành của các cơ sở giáo dục đại học. Trao đổi về khung chính sách phát triển đại học số và quản trị thông minh, Tiến sĩ Đặng Văn Huấn, Phó Vụ trưởng Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), cho rằng chuyển đổi số trong giáo dục đại học đã vượt ra ngoài việc số hóa tài liệu, triển khai hệ thống quản lý học tập hay đưa thủ tục lên môi trường điện tử.
Yêu cầu đặt ra là tổ chức đào tạo, nghiên cứu, quản trị và các dịch vụ hỗ trợ người học trên nền tảng dữ liệu, công nghệ số; đồng thời tăng cường kết nối giữa trường đại học với Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội.
Ở cấp độ quản trị thông minh, dữ liệu được sử dụng để phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Trí tuệ nhân tạo có thể góp phần cá thể hóa học tập, hỗ trợ quản lý, điều hành, song phải được sử dụng có kiểm soát, với sự giám sát và trách nhiệm của con người.
Theo Tiến sĩ Đặng Văn Huấn, Việt Nam đã từng bước xây dựng hệ thống chính sách định hướng chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Nhiệm vụ tiếp theo là đưa chính sách vào thực tiễn, triển khai hiệu quả tại các cơ sở đào tạo.
Các nội dung được nhấn mạnh gồm phát triển hạ tầng số có khả năng kết nối, liên thông; chuẩn hóa dữ liệu giáo dục đại học; đổi mới tổ chức đào tạo trên môi trường số; phát triển quản trị dựa trên dữ liệu; nâng cao năng lực số, năng lực AI cho người học và đội ngũ; bảo đảm an toàn thông tin, đạo đức và trách nhiệm khi sử dụng công nghệ.
Bên cạnh đổi mới phương pháp đào tạo và quản trị, tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục đại học với doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc giúp người học tiếp cận yêu cầu thực tế của thị trường lao động.
Theo Tiến sĩ Tan Hong Ming, sinh viên tốt nghiệp cần biết sử dụng trí tuệ nhân tạo, đồng thời có kiến thức chuyên môn, hiểu cách thức vận hành của doanh nghiệp và phát triển các kỹ năng như phỏng vấn, trình bày, giao tiếp.
Ông cho rằng việc đào tạo sát hơn với nhu cầu doanh nghiệp đòi hỏi sự phối hợp giữa các cơ sở giáo dục và đơn vị sử dụng lao động. Doanh nghiệp có thể tham gia xác định những kỹ năng cần thiết, cung cấp chuyên gia và tạo cơ hội để người học tiếp cận công việc thực tế thông qua các chương trình đào tạo, thực tập và trải nghiệm tại doanh nghiệp.
