Giáo dục hướng tới chất lượng và hiệu quả thực chất
Ngành giáo dục - đào tạo sắp bước vào năm học 2026-2027. Trao đổi với Báo SGGP, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn đề cập những vấn đề lớn của ngành và các nhiệm vụ trọng tâm sẽ được triển khai trong thời gian tới.
Quy hoạch mạng lưới trường lớp, giảm áp lực tuyển sinh đầu cấp
PHÓNG VIÊN: Kết thúc năm học 2025-2026, bên cạnh nhiều kết quả đạt được, Bộ trưởng đã thẳng thắn chỉ rõ một số hạn chế kéo dài nhiều năm chưa được khắc phục triệt để. Trong năm học mới, những vấn đề nào Bộ trưởng sẽ ưu tiên chỉ đạo giải quyết?

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn
* Bộ trưởng HOÀNG MINH SƠN: Năm học vừa qua là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển GD-ĐT. Toàn ngành đã rất nỗ lực và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào những hạn chế còn kéo dài như: cơ hội tiếp cận giáo dục và chất lượng giáo dục giữa các vùng, miền chưa đồng đều; tình trạng thiếu giáo viên cục bộ, quá tải trường lớp ở một số địa bàn; cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu. Những vụ việc liên quan đến bạo lực học đường, vi phạm đạo đức nhà giáo, gian lận thi cử, lạm thu, dạy thêm không đúng quy định, bệnh thành tích vẫn còn xảy ra.
Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp chưa theo kịp yêu cầu phát triển; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ chiến lược… Đó là những vấn đề chúng tôi cần tập trung giải quyết trong năm học mới.
Vấn đề quá tải trường lớp và giảm áp lực tuyển sinh đầu cấp đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Bộ trưởng sẽ có những giải pháp gì?
* Ở một số đô thị lớn, khu công nghiệp, dân số tăng nhanh nhưng trường lớp, giáo viên và cơ sở vật chất chưa theo kịp. Chất lượng giữa các trường chưa đồng đều cũng khiến nhu cầu tập trung vào một số trường tăng cao, làm gia tăng áp lực tuyển sinh.
Giải pháp căn cơ vẫn là làm tốt công tác quy hoạch mạng lưới trường lớp, dự báo nhu cầu học tập, chuẩn bị đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên. Khi phát triển đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp phải tính toán đồng bộ nhu cầu trường học và khả năng đáp ứng nhu cầu học tập; đồng thời triển khai các chính sách thu hút, khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư xây dựng trường.
Cùng với tăng khả năng đáp ứng chỗ học, cần từng bước thu hẹp chênh lệch chất lượng giữa các trường, chẳng hạn thông qua điều động, luân chuyển đội ngũ giáo viên. Một giải pháp quan trọng khác là triển khai tốt mô hình trường trung học nghề, làm tốt công tác hướng nghiệp để học sinh lựa chọn con đường học tập phù hợp sau trung học cơ sở.
Trên cơ sở đánh giá, tổng kết kinh nghiệm triển khai tại một số địa phương, trong năm học tới, Bộ GD-ĐT sẽ hướng dẫn các địa phương đổi mới mạnh mẽ phương thức tuyển sinh đầu cấp theo hướng tiếp nhận học sinh đầu cấp, ứng dụng bản đồ số để phân tuyến theo khoảng cách đến trường. Khi đã đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên thì về cơ bản, học sinh sẽ được tiếp nhận vào học tại nơi thuận tiện nhất mà không cần qua thi tuyển (trừ một số trường chuyên biệt), qua đó giảm áp lực thi cử.
Ngành GD-ĐT đang tập trung thực hiện quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục. Bộ trưởng kỳ vọng điều gì?
* Quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục phải hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và sử dụng tối ưu các nguồn lực, tuyệt đối không làm giảm cơ hội tiếp cận trường lớp của người học.
Đối với giáo dục phổ thông, cần tính toán đầy đủ quy mô dân số, điều kiện địa lý, giao thông và khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh; không nên áp dụng cứng nhắc một mô hình giống nhau cho mọi địa phương. Trong điều kiện thuận lợi, có thể bố trí mỗi xã, phường một trường tiểu học, một trường THCS và một trường THPT.

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn cùng giáo viên và học sinh tại “Ngày hội Khởi nghiệp quốc gia của học sinh, sinh viên lần thứ VIII năm 2026”, ngày 18-4. Ảnh: ĐÌNH TUỆ
Những nơi quy mô nhỏ, khoảng cách gần, điều kiện giao thông thuận lợi có thể sắp xếp để sử dụng hiệu quả hơn cơ sở vật chất và nhân lực. Nhưng ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo phải đặc biệt coi trọng khoảng cách đến trường, an toàn đi lại và điều kiện học tập của học sinh. Giảm đầu mối quản lý không đồng nghĩa với giảm cơ học trường, lớp hoặc điểm trường.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập, việc sắp xếp cần góp phần khắc phục tình trạng phân tán, trùng lặp; phát huy thế mạnh của từng cơ sở, nâng cao năng lực quản trị, đào tạo, nghiên cứu và gắn kết tốt hơn với nhu cầu nhân lực của địa phương, vùng và cả nước.
Sắp xếp tổ chức mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là tổ chức lại quản trị, đội ngũ, cơ sở vật chất, chương trình, ngành nghề đào tạo và phân bổ nguồn lực để tạo hiệu quả thực chất. Điều chúng tôi kỳ vọng là bộ máy gọn hơn, hoạt động hiệu quả hơn, nguồn lực được sử dụng tốt hơn và người học, nhà giáo thực sự được hưởng lợi.
Trong 1-2 năm tới, Bộ sẽ cùng các địa phương theo dõi sát tác động của việc sắp xếp mạng lưới, nhất là đối với khả năng tiếp cận giáo dục, tình trạng thừa - thiếu giáo viên và chất lượng hoạt động của nhà trường để kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh. Sắp xếp chỉ có ý nghĩa khi sau sắp xếp, nhà trường hoạt động tốt hơn, giáo viên được bố trí hợp lý hơn và học sinh được học tập trong điều kiện tốt hơn.
Tôi muốn nhấn mạnh tinh thần “giảm để tăng”: giảm đầu mối để tăng hiệu quả, giảm hình thức để tăng thực chất, giảm quy trình không cần thiết để tăng hiệu quả… Điều cần giảm là những nội dung trùng lặp, hình thức, những công việc không thực sự cần thiết để dành thời gian và nguồn lực cho những việc có giá trị hơn. Tôi tin rằng, mỗi nhà quản lý, mỗi nhà giáo và mỗi người học sẽ tìm thấy những ưu tiên hành động “giảm để tăng” phù hợp.
Xây dựng môi trường giáo dục trung thực, trách nhiệm và thực chất
Thưa Bộ trưởng, ngành giáo dục sẽ làm gì để củng cố niềm tin của xã hội trước những tiêu cực trong thi cử, lạm thu, bệnh thành tích, dạy thêm không đúng quy định… xảy ra thời gian qua?
* Trước hết, phải thẳng thắn nhìn nhận những vụ việc tiêu cực đã ảnh hưởng đến niềm tin của xã hội. Mỗi vụ việc cần được xem xét, xử lý nghiêm minh theo đúng quy định; đồng thời phải xác định những sơ hở trong quản lý để chấn chỉnh, không để lặp lại. Tuy nhiên, xử lý vi phạm mới chỉ là một phần.
Quan trọng hơn là xây dựng môi trường giáo dục đề cao sự trung thực, trách nhiệm và chất lượng thực chất. Kiểm tra, đánh giá phải phản ánh đúng năng lực người học; các khoản thu phải công khai, minh bạch và đúng quy định; việc dạy thêm, học thêm phải thực hiện đúng quy định; thi đua phải hướng vào chất lượng thực chất, không chạy theo thành tích hình thức...
Niềm tin không đến từ lời nói mà được tạo dựng qua cách chúng ta xử lý những việc chưa tốt và những chuyển biến thực tế của giáo dục. Khi phụ huynh yên tâm gửi con đến trường, học sinh được học tập trong môi trường an toàn, công bằng, trung thực và kết quả giáo dục được xã hội tin cậy, đó là thước đo rõ nhất.
Tinh thần “học thật, thi thật, nhân tài thật, giá trị thật” mà Bộ trưởng đã đặt ra sẽ được cụ thể hóa như thế nào từ năm học tới?
* Theo tôi, trước hết là làm đúng những nguyên tắc căn bản của giáo dục, bắt đầu từ những công việc hàng ngày và thực hiện một cách thường xuyên. Học thật là học với nỗ lực cao để hiểu sâu, vận dụng sáng tạo và tiến bộ thực chất, chứ không chỉ để đạt điểm cao hay có một tấm bằng.
Thi thật là đánh giá đúng năng lực người học, bảo đảm trung thực, khách quan và công bằng. Nhân tài thật là người thực sự có năng lực, phẩm chất và khả năng cống hiến. Giá trị thật là giá trị thực chất và lợi ích lâu dài mà giáo dục mang lại cho người học và xã hội.
Trên những nguyên tắc căn bản đó, Bộ GD-ĐT đang khẩn trương xây dựng chương trình hành động cụ thể để triển khai trong toàn ngành từ năm học tới. Tinh thần này không dừng ở giáo dục, tuyên truyền, vận động mà phải được thể hiện trong mọi hoạt động hàng ngày của nhà trường, từ phát triển chương trình giáo dục, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá đến đổi mới quản trị nhà trường, quan hệ nhà trường - gia đình, ứng xử trong môi trường sư phạm, công tác thi đua, khen thưởng… Tất cả đều phải hướng tới chất lượng và hiệu quả thực chất.
Đến hết năm học 2025-2026, cả nước có 36.794 cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập với tổng số 582.659 phòng học, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 89,6%. Một số địa phương đạt tỷ lệ cao như TPHCM đạt 100%; tỉnh Bắc Ninh đạt 98,6%; tỉnh Vĩnh Long đạt 92,8%... Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia bình quân cả nước đạt 65,4%.
Hiện cả nước còn thiếu 45.691 phòng học và 27.084 phòng học chức năng. Tính đến tháng 6-2026, cả nước còn thiếu 104.516 giáo viên trong biên chế so với định mức quy định của Bộ GD-ĐT.
Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/giao-duc-huong-toi-chat-luong-va-hieu-qua-thuc-chat-post868486.html
