Giáo sư Nhật và 'mối tình Việt Nam' sắt son
'Việt Nam là trung tâm của thế giới, hiểu được Việt Nam là hiểu về thế giới. Hơn nửa thế kỷ, tôi đã dành trọn tâm huyết, trí tuệ của mình để nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, cách mạng Việt Nam, và đến nay, tôi vẫn chung thủy với 'mối tình đầu' của tôi', Giáo sư (GS) Furuta Motoo đã trải lòng như vậy ngay khi câu chuyện của tôi với ông bắt đầu.
1. GS.TS Furuta Motoo hiện là Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Nhật, Hiệu trưởng Trường Đại học (ĐH) Việt Nhật (ĐH Quốc gia Hà Nội). GS là một người nước ngoài nhận được nhiều giải thưởng, phần thưởng do Nhà nước, Chính phủ Việt Nam trao tặng. Năm 2010, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ cho công trình “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử”; ông nhận Giải thưởng Bảo Sơn năm 2024 vì những đóng góp xuất sắc của ông cho khoa học và giáo dục Việt Nam… GS Furuta Motoo là chuyên gia hàng đầu về Việt Nam học ở Nhật Bản.
Ông đã xuất bản 14 cuốn sách, viết về lịch sử cách mạng, văn hóa, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong đó mới nhất là cuốn “Việt Nam - Một góc nhìn từ Nhật Bản”, một cuốn sách độc đáo có chiều sâu văn hóa, với lối kể chuyện dung dị, sâu lắng, ẩn sâu trong câu chữ là một tình cảm sâu thẳm, tha thiết mà GS Furuta Motoo dành cho Việt Nam. GS.TSKH Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội), Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã viết rằng: “Lần đầu tiên tôi thấy một người nước ngoài viết về Việt Nam chân thành và sâu sắc đến vậy”.

Giáo sư Furuta Motoo.
GS Furuta Motoo kể, năm 1968, ông vào đại học, là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam diễn ra ác liệt nhất, mối quan tâm của một người nước ngoài muốn thử sức với các vấn đề châu Á khiến ông hướng đến Việt Nam. Trên báo chí Nhật Bản hồi đó, tin bài về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam dày đặc trên báo và đối với ông, dường như cả thế giới đang chuyển động với trung tâm là Việt Nam. Ông bị thu hút bởi lý tưởng của người Việt Nam, bởi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của dân tộc Việt Nam.
GS Furuta Motoo lúc đó nghĩ rằng, nếu có thể hiểu được về đất nước Việt Nam “trung tâm” đó thì có thể dễ dàng hiểu được về thế giới. “Đó là lý do lớn nhất khiến tôi chọn Việt Nam là đối tượng nghiên cứu của mình. Tôi cảm nhận được sức hút của việc người Việt Nam giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, cũng là lý do mạnh mẽ để tôi có sự lựa chọn đó. Và tôi đã chọn đề tài “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp đại học”, GS Furuta Motoo chia sẻ.
Muốn hiểu và nghiên cứu về Việt Nam thì phải biết tiếng Việt, nhưng thời điểm này, ở ĐH Tokyo không có lớp học tiếng Việt và không dễ dàng để tìm được nơi có thể học được tiếng Việt. May mắn có một lớp học với giáo viên là du học sinh người miền Nam Việt Nam và kể từ đó, GS bắt đầu học tiếng Việt, nhưng ở ĐH Tokyo thời điểm đó hầu như không có sách và tài liệu tiếng Việt. Sinh viên học tiếng Việt phải truyền tay nhau đọc các mẩu báo mà giáo viên người Việt được cử sang ĐH Ngoại ngữ Tokyo giảng dạy, dùng để gói quà.
“Nhưng duyên phận của tôi và Việt Nam như là định mệnh. Trong lúc việc học tiếng Việt của tôi còn nhiều trở ngại thì năm 1977, khi đang là nghiên cứu sinh năm thứ 2, tôi có cơ hội sang Việt Nam dạy tiếng Nhật tại Trường ĐH Ngoại Thương. Đó là lần đầu tiên tôi trải nghiệm cuộc sống dài ngày ở Việt Nam. Thời kỳ này, số người Nhật thường trú dài ngày tại Hà Nội rất ít, bao gồm cả nhân viên Đại sứ quán, chỉ có khoảng 10 người”, GS Furuta Motoo nhớ lại.

Giáo sư Furuta Motoo trong tình cảm thân thương của học sinh Việt Nam.
Được sống tại Việt Nam, đắm mình trong lịch sử, văn hóa Việt Nam, GS Furuta Motoo bắt đầu quan sát và ghi chép, cảm nhận, chiêm nghiệm, nghiên cứu và đúc kết về tiến trình phát triển của một đất nước trải dài từ thời bao cấp đến thời kỳ đổi mới, và cho đến ngày hôm nay, với đầy ắp những sự kiện, trong đó dưới lăng kính và trái tim yêu Việt Nam tha thiết của GS Furuta Motoo, nhiều trang viết của GS đã làm sống lại trong mỗi chúng ta biết bao kí ức, hoài niệm về những chặng đường đã qua.
Đó là những năm tháng thiếu thốn đủ bề thời bao cấp, được GS ghi chép lại tỉ mỉ những câu chuyện người dân nuôi lợn, gà ngay trong gian nhà bé nhỏ để tăng thêm thu nhập; chuyện những người thợ chiếm dụng vỉa hè công cộng để cắt tóc; rồi hình ảnh các bà, các mẹ quang gánh bán hàng rong; người dân cơi nới “chuồng cọp”, “chuồng chim” tại những khu tập thể cũ; rồi phong tục “cúng nhập trạch” khi khai trương trụ sở; đến cách người Việt Nam tham gia giao thông, đều được GS Furuta Motoo ghi chép lại thành những trang viết dung dị, sâu sắc mà ân tình.
Đọc những trang nghiên cứu của GS viết về các đô thị tiêu biểu tại Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Lạng Sơn, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Hội An, TP Hồ Chí Minh, có cảm giác ông là một người con của đất Việt vậy. Bản thân tôi cũng thấy thật thú vị với trang viết của GS dành cho Hà Nội “36 phố phường”, phải gắn bó, hiểu sâu sắc với Hà Nội đến thế nào, GS mới có thể viết được những dòng lôi cuốn như thế này: “Tôi đã từng sống ở Việt Nam thời gian dài vào năm 1977 sau khi chiến tranh tại Việt Nam kết thúc, thời điểm đó, trong các ấn phẩm được xuất bản để phục vụ cho việc học tiếng Việt trong nước có ghi: “Thủ Đô Hà Nội sáng rực”, thực tế thời điểm đó do thiếu điện nên Hà Nội vào ban đêm tối đến mức tôi không thể hình dung được đây là một thành phố lớn. Những đêm trời quang đứng trên đê sông Hồng có thể có thể nhìn thấy rõ dải ngân hà và một bầu trời đầy sao nghĩ về Hà Nội đầy sao. Tôi đã nghĩ về Hà Nội đầy tự mãn với những câu văn ca ngợi hết mực: “Trên thế giới rất hiếm có thành phố có hơn 1 triệu người mà có thể nhìn rõ ràng ngân hà như Hà Nội”…
GS còn có những đúc kết có tính dự báo như: Hà Nội đã chuyển mình từ một thành phố chỉ có xe đạp thành Hà Nội của ôtô, xe máy. Diện mạo Hà Nội thay đổi từng ngày với nhiều cao ốc mọc lên mang dáng dấp của một đô thị hiện đại, nhưng cũng vì thế mà người ta không thể ngắm bầu trời đầy sao từ trong thành phố nữa… Vấn đề lớn nhất của Hà Nội hiện nay đó chắc hẳn là ùn tắc giao thông. Đan xen giữa những trang viết về văn hóa, con người, phong tục Việt Nam, GS Furuta Motoo còn dày công nghiên cứu về Đảng Cộng sản Việt Nam, về các dân tộc, về chữ viết, về Chủ tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối phát triển của Việt Nam và đường lối ngoại giao của Việt Nam, quan hệ của Việt Nam và Nhật Bản.
Những nghiên cứu của GS chứa đựng tư liệu đồ sộ, đề cập rất nhiều sự kiện trải dài theo suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. Khi xuất bản cuốn sách “Việt Nam - Một góc nhìn từ Nhật Bản” của GS Furuta Motoo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật đã đánh giá, trải qua hơn 50 năm, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ, toàn diện, thực chất trên tất cả các lĩnh vực với sự tin cậy chính trị cao, sự gắn kết chặt chẽ trên các lĩnh vực kinh tế, nguồn nhân lực, hợp tác đa phương. Để đạt được kết quả to lớn đó, có sự đóng góp tích cực nhưng thầm lặng của những nhà khoa học, nhà nghiên cứu của hai nước nói chung, của Nhật Bản nói riêng và GS Furuta Motoo là một trong những nhà khoa học đó.

Giáo sư Furuta Motoo đón Tết tại Việt Nam.
2. Căn phòng làm việc nhỏ của GS Furuta Motoo tại Trường ĐH Việt Nhật có một góc để ông trưng bày những món đồ lưu niệm đặc trưng cho văn hóa Việt Nam như tháp trống đồng, và văn hóa Nhật Bản như bộ quần áo kimono. Ông bảo, ông chuẩn bị về Nhật Bản một thời gian, sau đó ông sẽ sang Việt Nam đón Tết cổ truyền, vì sang năm 2026, ông sẽ kết thúc nhiệm kỳ làm Hiệu trưởng Trường ĐH Việt Nhật thì có thể sẽ rất lâu nữa, ông mới lại ăn Tết Việt. Khi nhắc đến “ngày Tết”, cả tôi và GS Furuta Motoo đều rộn ràng, hân hoan.
Ông kể, trước đây, người Nhật cũng ăn Tết theo âm lịch, nhưng rồi người Nhật đã bỏ thói quen này khi kinh tế phát triển nhanh, hiện cơ bản người Nhật đón Tết theo dương lịch. Người Nhật cũng giống người Việt Nam thường hay về quê ăn Tết và về cơ bản, phong tục ăn Tết của Việt Nam và Nhật Bản rất giống nhau. Nếu người Việt Nam có bánh chưng thì người Nhật có bánh dày, là thực phẩm tiêu biểu trong ngày Tết. Ngoài ra, người Nhật còn món đặc trưng nữa là món Osechi, và cũng giống người Việt là họ cũng thích mừng tuổi (nhưng hiện phong tục này đang bị mai một), thích đến chùa cầu bình an.
“Tết bao cấp của các bạn khác hẳn ngày nay. Vui chơi tiêu biểu nhất là đêm giao thừa ra phố xung quanh Hồ Gươm và đốt pháo. Hiện nay Tết Việt đã thay đổi nhưng trong lòng Tết Việt vẫn đậm chất văn hóa. Tôi thích ăn món ăn ngày Tết của Việt Nam như nem, thịt đông. Trước đây khi tôi dạy tiếng Nhật tại Việt Nam, Tết đến, các em sinh viên mang tặng tôi rất nhiều bánh chưng, có khi tôi nhận được hơn 10 cái bánh chưng, tôi hiểu đó là tình cảm mà các em dành tặng tôi và cũng là kỷ niệm tôi sẽ lưu giữ mãi. Sau này, có dịp tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn về Tết Việt và văn hóa Việt Nam, như để tri ân thêm đất nước Việt Nam đã yêu thương, trân trọng tôi, đã cho tôi cơ hội để được nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến cho khoa học, giáo dục và lịch sử văn hóa”.
Nguồn ANTG: https://antg.cand.com.vn/phong-su/giao-su-nhat-va-moi-tinh-viet-nam-sat-son-i795107/













