Gìn giữ nguồn nước để thích ứng với biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan trên phạm vi toàn cầu, từ nắng nóng kéo dài, hạn hán cục bộ đến mưa lớn bất thường, lũ quét và sạt lở đất. Trong bối cảnh đó, bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn nước không chỉ là yêu cầu cấp thiết đối với phát triển kinh tế - xã hội mà còn là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng chống chịu trước những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu.

Điều tiết nước tưới ở Cụm hồ Đồng Cẩu, xã Văn Lăng.
Tiết kiệm nước từ những cánh đồng lúa xanh
Là địa phương có gần 90.000ha lúa gieo trồng mỗi năm, Thái Nguyên đang đứng trước yêu cầu vừa bảo đảm sản xuất nông nghiệp, vừa giảm phát thải khí nhà kính và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước.
Tại xóm Bản Đông, xã Hợp Thành, hơn 100 hộ dân đã tham gia mô hình canh tác lúa thông minh theo phương pháp tưới ướt - khô xen kẽ (AWD) từ vụ xuân năm 2025. Thay vì duy trì mực nước ngập liên tục như tập quán canh tác truyền thống, người dân thực hiện cấp nước và rút nước theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa.
Sự thay đổi tưởng chừng đơn giản này đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Theo đánh giá của ngành chuyên môn, mô hình giúp tiết kiệm khoảng 30% lượng nước tưới so với phương thức canh tác truyền thống, đồng thời giảm khoảng 50% lượng khí mê-tan phát thải từ ruộng lúa. Đây là loại khí nhà kính có khả năng gây hiệu ứng nóng lên toàn cầu cao gấp nhiều lần khí CO₂.
Việc tiết kiệm nước còn góp phần giảm áp lực cho nguồn nước tại hồ Na Mạt. Nếu như trước đây, vào cao điểm sản xuất, nguồn nước thường xuyên trong tình trạng căng thẳng thì nay cơ bản vẫn đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, đồng thời bảo đảm nguồn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản và khu vực hạ lưu.
Để thực hiện mô hình, người dân được hướng dẫn áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp như cấy thưa, sử dụng mạ non, tăng cường phân hữu cơ, chế phẩm sinh học và thực hiện quy trình tưới khoa học. Các hộ tham gia còn ghi nhật ký sản xuất, cập nhật dữ liệu trên nền tảng số nhằm phục vụ công tác theo dõi và đánh giá lượng phát thải.
Sau hơn một năm triển khai, hiệu quả của mô hình tiếp tục được khẳng định. Năng suất lúa đạt 6,79 tấn/ha, cao hơn 0,89 tấn/ha so với phương thức canh tác thông thường. Chi phí giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật giảm từ 30-50%, giúp lợi nhuận bình quân tăng thêm 23,7 triệu đồng/ha, tương đương mức tăng khoảng 56%.
Không chỉ vậy, toàn bộ khoảng 65 tấn rơm rạ sau thu hoạch trên diện tích mô hình được xử lý bằng chế phẩm sinh học thay vì đốt bỏ như trước đây. Giải pháp này vừa bổ sung nguồn hữu cơ cho đất, vừa hạn chế ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính.
Đáng chú ý, mô hình đã giảm phát thải 44,51 tấn CO₂ tương đương chỉ sau một vụ sản xuất, tương ứng 3,71 tấn/ha. Đây là cơ sở quan trọng để hình thành mô hình tín chỉ carbon đầu tiên trong sản xuất lúa của tỉnh Thái Nguyên.
Những kết quả bước đầu cho thấy, bảo vệ nguồn nước hoàn toàn có thể bắt đầu từ những thay đổi trong từng thửa ruộng, từng quy trình sản xuất. Khi nước được sử dụng tiết kiệm hơn, môi trường được bảo vệ tốt hơn và người dân cũng được hưởng lợi trực tiếp từ hiệu quả kinh tế mang lại.
Chủ động thích ứng trước những biến động của nguồn nước

Cánh đồng xóm Bản Đông, xã Hợp Thành, duy trì rất ít nước trong mỗi vụ sản xuất.
Sau khi hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, nguồn tài nguyên nước của tỉnh mới hình thành một chỉnh thể thủy văn liên kết, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh nguồn nước của khu vực.
Theo Quy hoạch phân bổ, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước mặt tỉnh Thái Nguyên, hệ thống sông Công và sông Cầu giữ vai trò chủ đạo đối với nguồn nước mặt trên địa bàn.
Trong đó, sông Công có lưu vực rộng 951km², bắt nguồn từ vùng núi Định Hóa và chảy dọc chân dãy Tam Đảo. Dòng sông được ngăn tạo thành hồ Núi Cốc - công trình thủy lợi đặc biệt quan trọng của tỉnh với diện tích mặt nước khoảng 25km² và dung tích 231,6 triệu m³. Hồ hiện bảo đảm tưới chủ động cho khoảng 12.000ha đất nông nghiệp, đồng thời cung cấp nước sinh hoạt cho khu vực trung tâm tỉnh.
Sông Cầu - dòng chính của hệ thống sông Thái Bình - có lưu vực rộng 3.480km², bắt nguồn từ khu vực Chợ Đồn và mang theo khoảng 4,5 tỷ m³ nước mỗi năm. Dòng sông không chỉ có ý nghĩa đối với Thái Nguyên mà còn cung cấp nguồn nước tưới cho khoảng 24.000ha đất nông nghiệp của Thái Nguyên và Bắc Giang.
Nhờ nằm ở vị trí trung lưu của hệ thống sông Cầu, Thái Nguyên tiếp nhận lượng nước đáng kể từ khu vực thượng nguồn. Theo số liệu đo đạc tại trạm thủy văn Gia Bẩy, tổng lượng nước trung bình nhiều năm trên sông Cầu đạt khoảng 1,91 tỷ m³/năm, trong đó khoảng 0,9 tỷ m³ có nguồn gốc từ thượng lưu.
Bên cạnh đó, các phụ lưu như sông Chợ Chu, sông Đu, sông Nghinh Tường và suối Đèo Khế cũng góp phần quan trọng bổ sung nguồn nước cho toàn hệ thống. Tổng lượng dòng chảy hình thành trong phạm vi tỉnh ước đạt 2,64 tỷ m³/năm; cộng với lượng nước từ thượng nguồn tạo nên tổng lượng nước mặt khoảng 3,54 tỷ m³/năm.
Nguồn tài nguyên nước dưới đất cũng khá phong phú. Theo kết quả điều tra, tỉnh có 16 tầng chứa nước với tổng tài nguyên dự báo đạt trên 1,06 triệu m³/ngày và khả năng khai thác khoảng 319 nghìn m³/ngày. Đây là nguồn bổ sung quan trọng cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở sự suy giảm rõ rệt về tổng lượng nước mà ở sự phân bố ngày càng bất thường của nguồn nước dưới tác động của biến đổi khí hậu.
Tại Lễ phát động Tuần lễ Quốc gia phòng, chống thiên tai năm 2026 tổ chức tại Thái Nguyên, ông Hoàng Phúc Lâm, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, nhận định: Năm 2026, thời tiết tiếp tục diễn biến bất thường dưới tác động của biến đổi khí hậu và khả năng xuất hiện hiện tượng El Nino từ khoảng tháng 6.
Theo ông Lâm, sau một năm 2025 ghi nhận nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, những tháng đầu năm 2026, nắng nóng đã xuất hiện sớm tại nhiều khu vực. Đối với khu vực trung du, miền núi phía Bắc và tỉnh Thái Nguyên, nguy cơ xảy ra dông lốc, mưa đá cục bộ vẫn hiện hữu trong mùa hè. Bên cạnh đó, tình trạng nắng nóng kéo dài, thiếu nước cục bộ vào cuối năm hoàn toàn có thể xảy ra nếu El Nino duy trì với cường độ mạnh.
Thực tế những tháng đầu năm nay cũng cho thấy nhiều dấu hiệu đáng lo ngại khi lượng mưa trên địa bàn giảm đáng kể so với trung bình nhiều năm. Riêng tháng 3/2026, lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm hơn 23mm. Điều này cho thấy nguồn nước đang chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu với đặc điểm “lúc thừa, lúc thiếu”; mùa mưa tập trung trong thời gian ngắn nhưng mùa khô có xu hướng kéo dài hơn.
Trước những thách thức đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đang tập trung quản lý, khai thác hiệu quả hệ thống công trình thủy lợi hiện có. Sau sáp nhập, trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 30 hồ chứa lớn ở khu vực phía Bắc và 209 công trình thủy lợi tích nước tại khu vực phía Nam. Các công trình được theo dõi, vận hành linh hoạt nhằm vừa bảo đảm an toàn công trình, vừa nâng cao khả năng tích trữ nước phục vụ sản xuất và dân sinh.
Bảo vệ nguồn nước hôm nay không chỉ là bảo vệ sản xuất và môi trường mà còn là bảo vệ nền tảng phát triển bền vững trong tương lai. Từ những cánh đồng áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm đến việc quản lý hiệu quả các dòng sông, hồ chứa và nguồn nước dưới đất, Thái Nguyên đang từng bước nâng cao khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu. Đó cũng là con đường để bảo đảm an ninh nguồn nước và gìn giữ nguồn tài nguyên quý giá cho các thế hệ mai sau.











