Giữ đất cho đồng bằng: Bài 2: Thích ứng để tồn tại
Mùa nước nổi ở Đồng bằng sông Cửu Long nay không còn như trước. Nhiều cánh đồng đầu nguồn từng trắng nước suốt nhiều tháng, giờ nước về thấp hơn, thời gian ngắn hơn. Trong khi đó, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở và sụt lún ngày càng hiện rõ trên khắp vùng đất cuối nguồn Mekong.
"Thuận thiên" không phải buông xuôi
Nhưng giữa những biến động ấy, đồng bằng không đứng yên. Từ tư duy tìm mọi cách "chống lại thiên nhiên", nhiều địa phương đang chuyển dần sang cách thích ứng hài hòa với tự nhiên để giữ đất, giữ sinh kế và tìm đường phát triển bền vững cho cả vùng.
Nhiều năm trước, mỗi khi hạn hán hay xâm nhập mặn xuất hiện, cách ứng xử quen thuộc của nhiều địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn là tìm mọi cách để "chống". Chống mặn, giữ ngọt, khép kín đê bao, mở rộng diện tích sản xuất và chạy theo sản lượng từng được xem là hướng đi chủ đạo của cả vùng đồng bằng.

Mô hình tôm - lúa; tôm - cua giúp người dân vùng U Minh Thượng khấm khá hơn
Tuy nhiên, biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan cùng những biến động của dòng Mekong đang buộc đồng bằng phải nhìn lại chính mình. Theo nhiều chuyên gia, điều đáng lo hiện nay không chỉ nằm ở tác động của thiên nhiên, mà còn ở cách con người can thiệp quá sâu vào hệ sinh thái suốt nhiều năm qua.
Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập nổi tiếng về sinh thái, biến đổi khí hậu tại ĐBSCL và lưu vực sông Mê Kông cho rằng, ĐBSCL đang đứng trước lựa chọn mang tính quyết định giữa mô hình phát triển cũ và tư duy phát triển mới. Ông phân tích: "Con đường cũ tập trung vào cây lúa, thâm canh, chạy theo sản lượng, dùng công trình lớn can thiệp mạnh vào tự nhiên đã làm đồng bằng mất dần sức đề kháng. Trong khi đó, hướng phát triển thuận thiên theo Nghị quyết 120 và Quy hoạch tích hợp ĐBSCL là con đường giúp đồng bằng phục hồi và phát triển hài hòa với thiên nhiên".
Tư duy "thuận thiên" được nhắc đến nhiều sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 120 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu. Nhưng "thuận thiên" không có nghĩa là buông xuôi trước thiên tai. Đó là cách phát triển phù hợp quy luật tự nhiên, giảm những can thiệp cực đoan vào hệ sinh thái và nâng sức chống chịu nội tại cho đồng bằng. "Chúng ta không nên bi đát hóa ĐBSCL. Mùa khô năm 2024, thực tế khoảng 90% đồng bằng vẫn đủ nước. Khô hạn chủ yếu xảy ra ở những vùng ngọt hóa khép kín, nơi tự nhiên bị can thiệp quá mạnh" - Ông Thiện cho hay.

Nông dân vùng ĐBSCL không còn đốt rơm, mà tận dụng vào việc sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi
Quan điểm ấy cũng cho thấy một góc nhìn khác về tương lai đồng bằng. Nếu trước đây nhiều địa phương xem nước mặn là "kẻ thù”, thì nay nhiều nơi bắt đầu nhìn nhận mặn, lợ, ngọt là những yếu tố tự nhiên cần thích ứng thay vì tìm mọi cách loại bỏ.
Ở nhiều vùng ven biển Tây, mô hình sản xuất luân canh tôm - lúa, tôm - cua đang cho thấy hiệu quả rõ rệt hơn so với cách canh tác cũ. Thay vì cố giữ ngọt quanh năm, người dân tận dụng điều kiện tự nhiên để phát triển thủy sản theo hướng thuận thiên.
Ông Nguyễn Thành Nam ở ấp Ngã Bát, xã An Minh, tỉnh An Giang chia sẻ: "Những năm gần đây, mô hình tôm - lúa ở vùng U Minh Thượng phát triển khá mạnh. Riêng tỉnh An Giang hiện có hơn 102.000ha sản xuất lúa - tôm, chiếm gần 50% diện tích cả nước. Mô hình này giúp tận dụng nguồn nước lợ, giảm chi phí sản xuất, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật, tạo ra hạt lúa sạch và con tôm chất lượng cao. Nhờ sản xuất theo hướng hữu cơ, nhiều hộ dân có thu nhập ổn định, lợi nhuận đạt hàng trăm triệu đồng mỗi năm".
Theo giới chuyên môn, biến đổi khí hậu sẽ tiếp tục tác động ngày càng mạnh đến ĐBSCL trong những năm tới. Điều đó cũng đồng nghĩa đồng bằng không thể tiếp tục phát triển bằng tư duy "đối đầu" với tự nhiên như trước đây.
Cục trưởng Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp & Môi trường Nguyễn Tùng Phong nhận định, xu thế dài hạn cho thấy xâm nhập mặn ở ĐBSCL có khả năng gia tăng cả về cường độ lẫn tần suất xuất hiện. Những đợt hạn mặn nghiêm trọng như giai đoạn 2015 - 2016 hay 2019 - 2020 có thể xuất hiện thường xuyên hơn trong tương lai. Tuy nhiên, thay vì chỉ tập trung xử lý khi thiên tai xảy ra, nhiều địa phương hiện nay đã chuyển sang tư duy chủ động thích ứng.
Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Kết luận 26-KL/TW của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn vùng ĐBSCL giai đoạn 2026 - 2035. Không còn cách tiếp cận chỉ dựa vào công trình hay xử lý từng tình huống riêng lẻ, yêu cầu hiện nay là phải quản trị tổng hợp tài nguyên nước, liên kết vùng và phục hồi hệ sinh thái tự nhiên cho đồng bằng.
Hiệu quả từ những mô hình
Tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ hay Cà Mau, tư duy thích ứng đang dần hiện rõ qua nhiều mô hình sản xuất mới. Từ vùng đầu nguồn đến khu vực ven biển Tây (sau sáp nhập), nhiều địa phương không còn đặt mục tiêu tăng sản lượng bằng mọi giá, mà chuyển sang ưu tiên chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững.

Nuôi cá tra giống công nghệ cao của Tập đoàn Việt - Úc
Trên nhiều cánh đồng ở An Giang, hình ảnh người nông dân tất bật sản xuất theo kiểu cũ đang dần thay đổi. Nông dân bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến chất lượng hạt gạo, giảm phát thải, tiết kiệm nước và bảo vệ đất sản xuất. Đề án "Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long" đang mở ra hướng chuyển đổi mới cho nhiều địa phương.
Không còn chạy theo năng suất bằng mọi giá, mô hình sản xuất mới đặt trọng tâm vào sản xuất xanh, giảm chi phí đầu vào, nâng chất lượng và tăng giá trị hạt gạo. Tại nhiều cánh đồng ở An Giang, nông dân đã bắt đầu ứng dụng drone phun thuốc, tưới tiết kiệm nước và giảm lượng phân bón hóa học.
Ông Nguyễn Văn Lai, một nông dân tham gia mô hình sản xuất mới cho biết việc ứng dụng drone giúp giảm từ 20% đến 30% lượng thuốc bảo vệ thực vật, tiết kiệm từ 300.000 đến 500.000 đồng/ha. Quan trọng hơn là giảm lượng hóa chất phát tán ra môi trường và giảm áp lực lên đất sản xuất.
Không chỉ thay đổi cách sản xuất lúa, nhiều địa phương còn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp điều kiện tự nhiên. Ở những vùng sản xuất kém hiệu quả, nhiều hộ dân mạnh dạn chuyển sang trồng cây ăn trái, nuôi thủy sản hoặc kết hợp đa canh để thích ứng với điều kiện mới.
Tại khu vực ven biển Tây, nhiều mô hình nuôi tôm - lúa, tôm - cua đang cho thấy hiệu quả trong việc kiểm soát môi trường nước và giảm rủi ro dịch bệnh. Trong khi đó, các mô hình trữ nước mùa khô, sản xuất ít nước và canh tác thuận tự nhiên cũng đang được mở rộng ở nhiều địa phương.
Điều đáng mừng hiện nay không chỉ nằm ở số lượng mô hình mới xuất hiện trên đồng đất, mà còn ở sự thay đổi trong cách nghĩ của người dân. Nếu trước đây nhiều nông dân chỉ quan tâm làm sao tăng sản lượng, thì nay ngày càng nhiều người bắt đầu nghĩ đến chuyện giữ đất, giữ nước và bảo vệ hệ sinh thái lâu dài.
Ông Nguyễn Văn Mong, ngụ xã Tây Yên, tỉnh An Giang bộc bạch: "Người dân tụi tôi giờ hiểu rằng, đồng đất này không chỉ là chỗ làm ăn trước mắt, mà còn là nơi nuôi sống con cháu mai sau. Nếu mình khai thác kiểu tận cùng, làm đất bạc màu, nước ô nhiễm thì rồi chính mình cũng chịu thiệt trước tiên. Bởi vậy, bà con bây giờ làm ruộng, nuôi tôm hay sản xuất gì cũng bắt đầu nghĩ khác, phải biết thuận theo tự nhiên, giữ đất, giữ nước, giữ dòng chảy, để còn có cái mà sống lâu dài. Làm ăn có thể chậm hơn chút, nhưng bền thì mới đi đường dài được."
Ở nhiều địa phương đầu nguồn, việc phục hồi không gian chứa lũ cũng đang được quan tâm nhiều hơn. Thay vì khép kín hoàn toàn để sản xuất 3 vụ như trước, một số nơi bắt đầu điều chỉnh theo hướng giảm áp lực lên hệ thống đê bao, tạo điều kiện cho nước lũ quay trở lại đồng ruộng vào mùa nước nổi.
Cụ thể tại các xã Châu Phong, Tân An, Vĩnh Xương, vùng đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu, chính quyền địa phương đang vận động nông dân sản xuất theo phương châm "2 năm 5 vụ”, đồng thời luân phiên xả lũ cho các vùng đê bao khép kín để lấy phù sa bồi đắp ruộng đồng.
Sức chống chịu của ĐBSCL không đến từ những công trình can thiệp cực đoan, mà đến từ khả năng phục hồi "sức khỏe tự nhiên" của chính đồng bằng. Bởi nếu tiếp tục khai thác tài nguyên theo cách cũ, vùng đất cuối nguồn Mekong sẽ ngày càng mất khả năng tự phục hồi.
Ngược lại, nếu biết thích ứng hài hòa với tự nhiên, ĐBSCL vẫn còn nhiều cơ hội để phát triển bền vững. Điều đó đang hiện lên từ những cánh đồng sản xuất ít phát thải, những mô hình tiết kiệm nước và sự thay đổi trong nhận thức của người dân hôm nay.
Giữ đất cho đồng bằng giờ không còn là câu chuyện trị thủy đơn thuần. Đó còn là hành trình con người học lại cách sống hài hòa với tự nhiên sau nhiều năm can thiệp quá sâu vào hệ sinh thái. Giữa những thách thức ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu và biến động dòng Mekong, con đường thích ứng đang dần trở thành lựa chọn tất yếu để giữ tương lai cho vùng đất cuối nguồn.
Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/vu-an/phong-su/bai-2-thich-ung-de-ton-tai_192712.html











