Giữ đường biên từ những buôn làng yên ổn

Hơn 45 km đường biên ở Buôn Đôn không được bảo vệ chỉ bằng những bước chân tuần tra, phía sau các cột mốc là một thế trận được dựng nên từ sinh kế, đối thoại,..

Tuyến biên giới Buôn Đôn

• 45,542 km đường biên tiếp giáp tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia.

• Các lực lượng tham gia xây dựng đồng thuận: Mặt trận, chính quyền, già làng/người có uy tín, Bộ đội Biên phòng và nhân dân.

• Trọng tâm: giải quyết vấn đề từ cơ sở; vận động người dân bám đất, giữ rừng, không vượt biên trái phép và chủ động cung cấp thông tin về địa bàn.

Đường biên được giữ từ phía sau cột mốc

Buôn Đôn có 45,542 km đường biên giới tiếp giáp tỉnh Mondulkiri của Campuchia. Phần lớn tuyến biên đi qua những dải rừng rộng, địa hình phức tạp. Những người lính biên phòng vẫn tuần tra, kiểm soát địa bàn và bảo vệ từng cột mốc. Nhưng thực tế cho thấy đường biên không thể bình yên lâu dài nếu phía sau nó là những buôn làng thiếu sinh kế, tồn tại mâu thuẫn hoặc người dân không tin vào hệ thống cơ sở.

Vì thế, công việc bảo vệ biên giới ở Buôn Đôn bắt đầu từ những việc tưởng như không liên quan trực tiếp đến đường tuần tra: giúp một hộ ổn định cuộc sống, hòa giải tranh chấp đất rẫy, vận động thanh niên không nghe lời dụ dỗ vượt biên, giữ trẻ em đến trường, bảo tồn những thiết chế văn hóa giúp cộng đồng duy trì trật tự và tiếng nói chung.

Hạt kiểm lâm vườn quốc gia Yok Đon tuần tra bảo vệ rừng, bảo vệ đất nước.

Hạt kiểm lâm vườn quốc gia Yok Đon tuần tra bảo vệ rừng, bảo vệ đất nước.

Người dân bám đất cũng là những người nhận ra sớm nhất sự thay đổi trên địa bàn. Họ biết lối mòn nào ít người qua lại, khu rừng nào xuất hiện dấu vết lạ, gia đình nào đang có người bị lôi kéo. Khi có niềm tin, thông tin ấy được chuyển nhanh đến lực lượng chức năng. Khi thiếu niềm tin, một khoảng im lặng nhỏ trong buôn có thể trở thành khoảng trống lớn đối với công tác bảo vệ biên giới.

Đó là lý do Mặt trận, chính quyền và Bộ đội Biên phòng dành nhiều thời gian cho công tác dân vận. Mỗi lực lượng có một chức năng, nhưng đều cùng hướng đến việc củng cố quan hệ giữa người dân với cộng đồng và Nhà nước. Mặt trận tạo kết nối; già làng đem lại uy tín; chính quyền giải quyết chính sách và nguồn lực; biên phòng cung cấp kiến thức pháp luật, nắm tình hình và xử lý các vấn đề về an ninh, chủ quyền.

Sự phối hợp ấy thể hiện qua các mô hình toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới; đảng viên phụ trách hộ gia đình; cán bộ, chiến sĩ biên phòng tham gia sinh hoạt ở cơ sở; các buổi tuyên truyền, vận động và giải quyết vấn đề ngay tại buôn. Đường biên nhờ đó không còn là câu chuyện chỉ được nhắc trong doanh trại, mà đi vào cuộc họp buôn, mùa phát rẫy và lời dặn con cháu không tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật.

Những cánh rừng bạt ngàn, giáp Campuchia.

Những cánh rừng bạt ngàn, giáp Campuchia.

Điểm đáng chú ý là người dân không được đặt vào vai trò “tai mắt” một cách đơn giản. Họ tham gia bảo vệ biên giới bởi cuộc sống của mình gắn với đất, rừng và sự bình yên của địa phương. Khi quyền lợi thiết thân được bảo đảm và tiếng nói được lắng nghe, trách nhiệm công dân hình thành bền vững hơn mọi lời vận động ngắn hạn.

Gỡ việc nhỏ để ngăn điểm nóng

Một cán bộ Mặt trận ở Buôn Đôn đúc kết công việc của mình bằng cách rất thực tế: người dân còn giận nhau thì khó nói chuyện xây dựng nông thôn mới; bà con còn nghi ngờ nhau thì càng khó vận động giữ gìn an ninh biên giới. Muốn làm việc lớn, trước hết phải gỡ những chuyện nhỏ.

“Chuyện nhỏ” ở vùng biên có thể là mốc ranh giữa hai rẫy, khoản hỗ trợ mà một hộ chưa hiểu rõ, lời nói gây tự ái giữa những người khác dân tộc, hoặc một thông tin sai lệch lan qua vài cuộc trò chuyện. Nếu được giải thích và đối thoại kịp thời, chúng dừng lại ở phạm vi gia đình, hàng xóm. Nếu bị bỏ mặc, chúng có thể bị lợi dụng để khoét sâu tâm lý bất mãn và chia rẽ cộng đồng.

Khởi công nhà đại đoàn kết để trao cho các hoàn cảnh khó khăn.

Khởi công nhà đại đoàn kết để trao cho các hoàn cảnh khó khăn.

Công tác Mặt trận vì vậy không chỉ đo bằng số cuộc tuyên truyền. Giá trị lớn nhất nằm ở năng lực phát hiện những rạn nứt nhỏ và huy động đúng người tham gia tháo gỡ. Có trường hợp già làng nói trước để hạ nhiệt; cán bộ chuyên môn giải thích quy định; chính quyền kiểm tra quyền lợi; biên phòng cung cấp thông tin về thủ đoạn lôi kéo; người thân tiếp tục vận động sau cuộc họp. Một vấn đề được xử lý bằng nhiều mối quan hệ thay vì chỉ bằng một văn bản.

Cách làm này đặc biệt quan trọng ở địa bàn nhiều dân tộc, nhiều tín ngưỡng. Một thông điệp đúng nhưng truyền đạt thiếu hiểu biết văn hóa vẫn có thể tạo phản ứng ngược. Ngược lại, khi người dân được đối thoại bằng ngôn ngữ và cách ứng xử quen thuộc, pháp luật trở nên gần gũi hơn, còn người thực thi công vụ không bị nhìn như một lực lượng xa lạ.

Một buổi tiếp xúc cử tri ở xã Buôn Đôn.

Một buổi tiếp xúc cử tri ở xã Buôn Đôn.

Tại Jang Lành, người lính biên phòng xuất hiện trong đời sống buôn làng không chỉ vào những buổi tuyên truyền. Họ cùng cán bộ cơ sở đến hộ dân, dự sinh hoạt cộng đồng, hỗ trợ trẻ em, tham gia những phần việc dân sinh. Sự hiện diện thường xuyên giúp xây dựng mối quan hệ đủ tin cậy để người dân báo tin, hỏi ý kiến hoặc tìm đến khi có dấu hiệu bất thường.

“Thế trận lòng dân” vì thế không phải một trạng thái cảm xúc chung chung. Nó là mạng lưới quan hệ trong đó người dân biết mình có thể tin ai, tìm ai và cùng ai giải quyết vấn đề. Mạng lưới ấy càng chặt, các lời kích động dựa trên khác biệt dân tộc, tôn giáo càng khó tìm được chỗ bám.

Đồng thuận, không đồng nhất

Kinh nghiệm của Buôn Đôn đặt ra một cách hiểu rõ ràng về đại đoàn kết: cộng đồng bền vững không phải cộng đồng không còn khác biệt, mà là nơi các khác biệt có thể cùng tồn tại trong một trật tự công bằng và một mục tiêu chung.

Người Ê Đê vẫn giữ nhà dài, tiếng nói, lễ cúng bến nước và chế độ mẫu hệ. Những gia đình người Kinh, Mường, Tày, Nùng, Thái, Dao, Lào vẫn duy trì phong tục của mình. Điều gắn họ lại là quyền được tôn trọng, lợi ích chung của buôn làng và trách nhiệm cùng giữ không gian sống. Đó là đồng thuận, khác với đồng nhất.

Sự phân biệt này có ý nghĩa đặc biệt đối với một tỉnh có hơn 40 dân tộc cùng sinh sống và đang mở rộng không gian phát triển. Nếu đa dạng chỉ được nhìn như vấn đề cần quản lý, chính sách dễ thiên về làm cho mọi cộng đồng giống nhau. Nếu được nhìn như nguồn lực, mỗi nhóm dân cư có thể đóng góp ngôn ngữ, tri thức bản địa, kinh nghiệm sản xuất, mạng lưới quan hệ và sức sáng tạo của mình cho mục tiêu chung.

Tại Buôn Đôn, sức mạnh ấy đã bắt đầu từ những điều cụ thể: một gia đình đặt quy ước để dâu rể đều có tiếng nói; một buôn làng coi lễ hội của cộng đồng khác là việc chung; Mặt trận kết nối luật tục với pháp luật; người dân và biên phòng cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ địa bàn. Các tầng liên kết hỗ trợ lẫn nhau, từ mái nhà đến đường biên.

Biên phòng và kiểm lâm tuần tra ở vùng biên giới Buôn Đôn.

Biên phòng và kiểm lâm tuần tra ở vùng biên giới Buôn Đôn.

Chiều trên Sêrêpốk, những cột mốc quốc gia vẫn đứng giữa màu xanh của rừng biên giới. Chúng xác định ranh giới lãnh thổ bằng tọa độ và pháp lý. Nhưng sự bình yên quanh những cột mốc ấy còn được bảo đảm bởi một hệ thống khó nhìn thấy hơn: người dân có sinh kế để bám đất, có nơi đối thoại khi bất đồng, có niềm tin để báo tin và có lý do để xem việc của Tổ quốc cũng là việc của gia đình mình.

Đó là phát hiện cốt lõi từ Buôn Đôn: đại đoàn kết không phải lớp trang trí của đời sống cộng đồng. Ở vùng biên, nó là một năng lực bảo vệ và phát triển. Khi con người biết dành chỗ cho khác biệt, chia sẻ lợi ích công bằng và cùng chịu trách nhiệm với mái nhà chung, lòng dân trở thành tuyến phòng thủ bền vững nhất.

An Yên

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/giu-duong-bien-tu-nhung-buon-lang-yen-on-ar1031388.html