Giữ 'hồn' lanh của đồng bào Mông
Lồng ghép bảo tồn nghề dệt lanh vào các buổi sinh hoạt cộng đồng, xã Thắng Mố đã phát huy vai trò của người có uy tín và cán bộ cơ sở, vừa giữ nghề truyền thống của đồng bào Mông, vừa nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân.
Từ nương lanh đến khung cửi
Những ngày này đến Thắng Mố, dọc các sườn đồi hay những khoảng đất trũng trước sân nhà, đâu đâu cũng thấy những vạt lanh xanh mướt. Nghề se lanh, dệt vải từ lâu đã gắn bó với đời sống của đồng bào dân tộc Mông nơi đây. Tấm vải lanh không chỉ phục vụ nhu cầu mặc, mà còn là thước đo sự khéo léo, cần cù của người phụ nữ, được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Cán bộ và người có uy tín thôn Há Lìa đến tận nhà vận động, động viên bà con duy trì và phát huy nghề dệt lanh truyền thống.
Để làm ra một tấm vải lanh hoàn chỉnh, người Mông phải trải qua tới 41 công đoạn hoàn toàn thủ công. Cây lanh ưa đất ẩm, phát triển nhanh, gieo trồng khoảng 4 tháng là thu hoạch. Theo kinh nghiệm của bà con, lanh phải gieo dày để thân mọc thẳng, ít nhánh, cho sợi dài và không bị đứt khi tước. Lanh cắt về được tuốt sạch lá, bó thành từng chùm, phơi nắng khoảng 10 ngày rồi mới tước vỏ.
Chị Cháng Thị Mỷ, thôn Há Lìa cho biết: “Năm nào tôi cũng trồng một khoảng nương lanh. Lúc thu hoạch, tôi chọn giữ lại những cây cứng cáp để lấy vỏ, hạt chắc mẩy thì phơi khô làm giống cho vụ sau. Muốn lanh tốt thì mỗi vụ phải đổi vị trí trồng. Được cán bộ xã và người có uy tín trong thôn tuyên truyền, hướng dẫn, ai cũng hiểu giữ nương lanh là giữ nghề của tổ tiên nên nhà nào cũng cố gắng duy trì”.
Công đoạn nối sợi đòi hỏi sự kiên trì. Những sợi lanh tước ra được người phụ nữ nối khéo léo, không để lại mấu, rồi cuộn thành từng cuộn tròn. Để sợi trắng, mềm và bền, bà con luộc lanh với nước tro bếp và nước vôi trong, giặt rồi luộc lại, tổng cộng tới 3 lần. Lần luộc cuối, người dân cho thêm sáp ong để sợi mượt hơn. Các bó sợi sau đó được đặt lên khúc gỗ tròn, dùng tấm đá phẳng lăn qua lăn lại bằng sức người cho mềm trước khi đưa vào guồng chia sợi.

Tranh thủ lúc nông nhàn, người dân cùng nhau chuẩn bị các sợi lanh để kịp dệt trang phục truyền thống.
Khung cửi của người Mông khá đơn giản nhưng đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng. Khung gỗ dựng thẳng, buộc cố định vào cột nhà, một đầu giữ bằng chính lưng người dệt. Dụng cụ gồm ống tre chia chỉ, phên tre đan mau làm lược tách sợi và hộp con thoi vừa dập vừa đập khít các sợi vải. Bà Giàng Thị Hờ, 60 tuổi, thôn Há Lìa vừa đưa con thoi theo nhịp vừa kể: “Tôi biết dệt vải từ nhỏ. Mỗi năm trồng khoảng 100m² lanh, tranh thủ lúc nông nhàn dệt được 60 - 70m vải. Giờ tuổi đã cao nhưng tôi vẫn dạy lại cho con cháu để tiếng dệt của khung cửi không bị mất đi”.
Dệt xong, tấm vải tiếp tục được luộc, giặt, phơi khô, cán phẳng rồi mới chuyển sang nhuộm chàm. Kỹ thuật nhuộm thủ công từ lá chàm, vỏ cây, rễ cây tự nhiên giúp vải lanh có màu bền đẹp, không phai theo thời gian.
Gắn bảo tồn văn hóa với vận động cơ sở
Với đồng bào Mông ở Thắng Mố, cây lanh không chỉ là nguyên liệu may mặc mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Trang phục vải lanh được xem như sợi dây nối người sống với tổ tiên. Theo phong tục, người phụ nữ khi về nhà chồng phải mang theo bộ quần áo lanh để được dòng họ bên chồng công nhận. Khi có người thân qua đời, gia quyến bắt buộc phải chuẩn bị trang phục bằng vải lanh để người quá cố mặc khi trở về với cội nguồn.
Anh Hầu Mí Sính, Phó Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Thắng Mố cho biết: “Theo quan niệm của người Mông, khi khuất núi phải có quần áo vải lanh thì linh hồn mới tìm được đường về với tổ tiên. Con cái đối với cha mẹ già yếu cũng phải tự tay chuẩn bị sẵn trang phục lanh để tròn đạo hiếu. Chính giá trị nhân văn này đã giúp nghề dệt lanh tồn tại bền bỉ qua hàng trăm năm”.

Bà con xã Thắng Mố giặt, tẩy sợi lanh bên suối để tạo độ trắng sáng tự nhiên cho vải.
Nắm được cốt lõi văn hóa đó, chính quyền xã Thắng Mố đã đưa nội dung bảo tồn nghề truyền thống vào chương trình hành động thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Xác định tuyên truyền miệng và nêu gương có tác động trực tiếp nhất đối với người dân vùng cao, xã phát huy vai trò của đội ngũ người có uy tín, bí thư chi bộ, trưởng thôn trong vận động nhân dân.
Thông qua các buổi sinh hoạt thôn, hội họp đoàn thể hay các đợt phổ biến, giáo dục pháp luật, người có uy tín không chỉ tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn lồng ghép vận động bà con bài trừ hủ tục trong cưới hỏi, tang lễ, giữ gìn những nét đẹp văn hóa như nghề dệt lanh. Cách làm này tạo được sự đồng thuận cao trong cộng đồng. Bà con nhận thấy giữ nghề truyền thống vừa tiết kiệm chi phí sinh hoạt, vừa mở ra cơ hội phát triển các sản phẩm du lịch, thổ cẩm hàng hóa về sau.
Đến nay, 100% các thôn trong xã duy trì diện tích trồng lanh và nghề dệt vải. Váy, áo, túi thổ cẩm làm từ lanh không chỉ xuất hiện trong các dịp lễ, Tết, hội làng mà còn trở thành biểu tượng của ý thức tự cường của đồng bào vùng cao.
Chính sự chuyển biến từ cơ sở đã khẳng định, khi công tác tuyên truyền, vận động bám sát đời sống và dựa vào lực lượng người có uy tín ở cơ sở, các mục tiêu của Chương trình MTQG sẽ sớm đi vào cuộc sống. Giữ được nghề se lanh, dệt vải cũng là giữ được “hồn” văn hóa, để đồng bào các dân tộc thiểu số yên tâm bám bản, chung tay xây dựng đời sống mới nơi biên cương.
Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/xa-hoi/202611/giu-hon-lanh-cua-dong-bao-mong-81d7b4d/
