Giữ 'lá chắn xanh' cho vành đai biển của Huế - Kỳ 3: Gia cố 'tấm khiên xanh' trước biến đổi khí hậu
Khi biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, việc giữ vững “lá chắn xanh” cũng chính là giữ sinh kế, đất đai và tương lai của vùng cát ven biển ở Huế.


Theo công bố hiện trạng rừng năm 2025, thành phố Huế có khoảng 305.673 ha rừng và diện tích đủ tiêu chí tính tỷ lệ che phủ là 282.298 ha, tỷ lệ che phủ đạt 57,15%. Riêng nhóm rừng phòng hộ khoảng 5.300 ha. Qua tìm hiểu, diện tích rừng phòng hộ trên cát ven biển cơ bản được duy trì. Trong những năm gần đây, ở một số khu vực được trồng mới, phục hồi và trồng bổ sung thông qua các chương trình, dự án, trong đó có Dự án SPRCC (Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu). Tuy nhiên, chất lượng và khả năng tái sinh chưa đồng đều. Một số diện tích bị ảnh hưởng bởi bão, hạn hán, xói lở, cát bay, cháy rừng, hoạt động dân sinh và tác động của một số dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố…
Ông Lê Ngọc Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố Huế cho rằng, những khu vực cần đặc biệt quan tâm là các diện tích rừng ven biển có nguy cơ chịu tác động lớn của bão, gió mạnh, xói lở bờ biển, cát bay và hoạt động dân sinh, nhất là tại các xã, phường ven biển như Phong Quảng, Phong Phú, Thuận An… Trọng tâm là theo dõi sát biến động diện tích, chất lượng và khả năng tái sinh của rừng để kịp thời xác định diện tích cần bảo vệ, trồng bổ sung hoặc phục hồi bảo đảm duy trì liên tục dải rừng phòng hộ ven biển.
Có thể khẳng định, các dải rừng này là một “lá chắn xanh” rất thiết thực đối với vùng ven biển Huế. Rừng giúp giảm tốc độ gió, giữ và cố định cát, hạn chế cát bay vào khu dân cư và đất sản xuất; đồng thời góp phần giảm tác động của xói lở, của bão và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Giá trị của rừng vì vậy không chỉ được tính bằng diện tích hay sản lượng gỗ, mà trước hết là giá trị phòng hộ, môi trường và khả năng bảo vệ không gian sinh thái ven biển. Đây cũng là hướng đi phù hợp với định hướng tăng cường “hạ tầng xanh” và thích ứng dựa vào hệ sinh thái của thành phố.

Hiện nay, nhiều yếu tố có thể gây ảnh hưởng lớn đến rừng phòng hộ trên cát ven biển của thành phố Huế. Theo ông Lê Ngọc Tuấn, có bốn nhóm tác động chính, bao gồm thiên tai, biến đổi khí hậu như bão mạnh, gió lớn, hạn hán, xói lở bờ biển và cát bay, có thể làm gãy đổ, suy giảm mật độ và chất lượng rừng. Hai là nguy cơ cháy rừng trong điều kiện nắng nóng, khô hạn. Ba là tác động từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khi nhu cầu sử dụng đất để đầu tư xây dựng hạ tầng, đô thị, du lịch, dịch vụ và các công trình ven biển có thể làm thay đổi hiện trạng và tính liên tục của một số diện tích rừng. Thứ tư là tác động của con người, như lấn chiếm đất rừng, khai thác trái quy định hoặc quản lý, bảo vệ chưa chặt chẽ. Vì vậy, việc sử dụng rừng ven biển phải được thực hiện hài hòa giữa yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ, duy trì và phát huy chức năng phòng hộ của rừng.
Về vấn đề này, ông Lê Văn Cường, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi Trường cho rằng: Quan điểm của ngành là phải quản lý rừng từ sớm, từ cơ sở. Trong đó, xác định rõ ranh giới, rõ chủ rừng, rõ trách nhiệm; tăng cường kiểm tra hiện trường, cập nhật cơ sở dữ liệu và xử lý nghiêm vi phạm. Năm 2025, thành phố đã chỉ đạo xử lý nghiêm vụ việc khai thác trái phép 3,141 ha rừng ven biển, qua đó cho thấy yêu cầu phải siết chặt trách nhiệm quản lý ở từng địa bàn.

Theo ông Lê Văn Cường, để bảo vệ rừng hiệu quả, nhất là rừng phòng hộ trên cát ven biển, Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện chức năng tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp. Lực lượng kiểm lâm theo dõi diễn biến rừng, kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý hoặc tham mưu xử lý các hành vi vi phạm. UBND cấp xã chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng trên địa bàn; các đơn vị được giao quản lý, chủ rừng chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, bảo vệ diện tích rừng được giao.
Trong thực tế, khó khăn chủ yếu là việc xác định, quản lý ranh giới đất rừng ở một số khu vực còn phức tạp, nhất là nơi rừng ven biển xen kẽ khu dân cư, đất sản xuất và các khu vực có dự án phát triển kinh tế - xã hội. Việc cập nhật biến động hiện trạng rừng, trao đổi thông tin và phối hợp kiểm tra, xử lý tại cơ sở có lúc chưa kịp thời. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải rõ người, rõ việc, rõ địa bàn, rõ trách nhiệm, tăng cường phối hợp giữa kiểm lâm, chính quyền cấp xã và chủ rừng trong kiểm tra hiện trường, cập nhật hồ sơ, bản đồ và biến động rừng. Đồng thời xử lý ngay từ cơ sở các nguy cơ xâm lấn, khai thác trái phép, chuyển đổi hoặc sử dụng đất rừng không đúng quy định, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng phòng hộ trên cát ven biển.

Rừng phòng hộ trên cát ven biển là một bộ phận rất quan trọng của hệ thống phòng hộ của thành phố Huế. Hiện nay, các diện tích rừng này được quản lý thông qua chính quyền địa phương và các chủ rừng theo quy định. Lực lượng kiểm lâm thực hiện theo dõi diễn biến, kiểm tra, giám sát và tham mưu xử lý vi phạm. Nhìn chung, rừng vẫn đang phát huy chức năng phòng hộ, nhất là chắn gió, cố định cát và bảo vệ đất đai, khu dân cư ven biển. Song, chất lượng rừng chưa đồng đều, một số nơi còn thiếu vành đai rừng đủ rộng, rừng bị suy giảm do thiên tai và tác động của con người. Vì vậy, yêu cầu hiện nay không chỉ là giữ diện tích rừng mà phải nâng chất lượng và khả năng chống chịu của rừng.

Bảo vệ rừng hiện có, phục hồi những diện tích rừng bị suy giảm và nâng cao chất lượng rừng là nhiệm vụ trọng tâm. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với các địa phương rà soát cụ thể từng khu vực, đánh giá hiện trạng và xác định những diện tích cần ưu tiên phục hồi, trồng bổ sung hoặc phát triển mới. Việc đầu tư sẽ được thực hiện trên cơ sở nhu cầu thực tế và mức độ xung yếu của từng khu vực, bảo đảm nguồn lực được sử dụng hiệu quả.
Bên cạnh đó, việc phục hồi rừng phải phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng cát ven biển, không chỉ tập trung vào trồng mới mà chú trọng bảo vệ khả năng tái sinh tự nhiên, phục hồi rừng suy thoái, làm giàu rừng và lựa chọn các loài cây có khả năng thích nghi tốt với gió, cát, bão và điều kiện biến đổi khí hậu. Đây là cách làm để rừng có sức chống chịu tốt hơn và phát huy chức năng phòng hộ lâu dài.
Thành phố và ngành chức năng chủ động huy động các nguồn lực xã hội, nguồn vốn trong nước và quốc tế để đầu tư cho phục hồi rừng và thích ứng với biến đổi khí hậu. Một chương trình cụ thể là Dự án VIE/301 về thích ứng và chống chịu với biến đổi khí hậu, do Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) và Chính phủ Luxembourg tài trợ, thực hiện giai đoạn 2025 - 2029, với tổng kinh phí 10 triệu USD. Dự án có các nội dung về phục hồi rừng ven biển, giải pháp dựa vào hệ sinh thái, tăng cường cảnh báo sớm và nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.

Đầu tư cho rừng phòng hộ ven biển không chỉ là đầu tư cho cây rừng, mà là đầu tư cho sự an toàn của người dân, bảo vệ đất đai, sản xuất và hệ sinh thái ven biển. Vì vậy, cần ưu tiên những khu vực thực sự xung yếu, từng bước hình thành hệ thống rừng phòng hộ có chất lượng, có khả năng chống chịu tốt hơn trước thiên tai và biến đổi khí hậu. Đồng thời, gắn công tác bảo vệ rừng với phát triển sinh kế và nâng cao đời sống của cộng đồng ven biển.
Cũng theo ông Lê Văn Cường, bảo vệ rừng phòng hộ không chỉ là nhiệm vụ của ngành lâm nghiệp mà phải là trách nhiệm chung của chính quyền, chủ rừng và cộng đồng cư dân sống gần rừng.


