Giữ trọn y đức, vững vàng y thuật

Ca ghép tạng (ghép thận) đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện thành công vào ngày 4-6-1992, đánh dấu bước ngoặt lịch sử cho nền y học nước nhà.

Gần 34 năm qua, kể từ ca ghép tạng đầu tiên ấy, nền y học Việt Nam đã có bước tiến dài trong lĩnh vực ghép tạng. 8 năm sau ca ghép thận đầu tiên, đội ngũ y, bác sĩ Việt Nam đã thực hiện thành công ca ghép tim, kế đến là thực hiện thành công ghép gan.

Đến nay, đội ngũ y, bác sĩ Việt Nam gần như đã làm chủ được kỹ thuật ghép tạng, chi thể, đặc biệt là đã làm chủ được kỹ thuật trong ghép tim, phổi.

Đối với các nước phát triển, có nền y học tiên tiến thì việc ghép tạng, chi thể không còn là điều mới mẻ.

Tuy nhiên, nhìn ở bình diện chung của nền y học nước nhà thì việc làm chủ được những kỹ thuật tiên tiến, phức tạp trong ghép tạng, chi thể đó là sự nỗ lực không ngừng của các thế hệ y, bác sĩ.

Bởi sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước (30-4-1975), đội ngũ y, bác sĩ, trang thiết bị y tế, thuốc men… của Việt Nam còn rất hạn chế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

Đến giai đoạn đổi mới và phát triển (từ năm 1986 trở đi), hệ thống đào tạo y khoa được mở rộng mạnh mẽ, nhiều trường đại học y dược được thành lập hoặc nâng cấp, số lượng sinh viên y khoa được tuyển mới không ngừng gia tăng hằng năm.

Từ đó, đội ngũ y, bác sĩ của nước ta không ngừng gia tăng. So với những năm đầu sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, đội ngũ y, bác sĩ không chỉ gia tăng về số lượng, mà ngày càng nâng cao chuyên môn, năng lực nghiên cứu, thực hành, áp dụng kỹ thuật tiên tiến, góp phần quan trọng vào sự phát triển y học quốc gia và quốc tế.

Không chỉ làm chủ trong kỹ thuật ghép tạng, chi thể, đội ngũ y, bác sĩ Việt Nam còn khẳng định tay nghề với hàng loạt thành tựu nổi bật khác như: Can thiệp tim mạch, mổ nội soi bằng robot, thụ tinh trong ống nghiệm, điều trị ung thư bằng kỹ thuật cao, thông tim xuyên tử cung cứu sống bào thai, chọn lọc phôi không mang gen bệnh, ngăn chặn thành công các dịch bệnh truyền nhiễm, hệ thống tiêm chủng mở rộng được bao phủ rộng khắp, sản xuất được nhiều loại vaccine, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán…

Đặc biệt, Việt Nam lọt top 5 nước đang phát triển có tốc độ giảm tử vong bà mẹ và trẻ em nhanh nhất thế giới.

Đồng thời, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu nổi bật trong khống chế dịch COVID-19, được quốc tế ghi nhận nhờ chiến lược “thần tốc”, bao gồm: Bao phủ vaccine sớm, kiểm soát hiệu quả các đợt dịch, huy động lực lượng y tế quy mô lớn và từng bước chuyển sang thích ứng an toàn.

Nhìn ở góc độ y đức, đội ngũ y, bác sĩ Việt Nam luôn thực hiện theo lời dạy của Bác Hồ, đó là “lương y như từ mẫu”, luôn tận tâm, hết lòng thương yêu, chăm sóc bệnh nhân, đặt sức khỏe người bệnh lên hàng đầu, coi người bệnh như người thân, cảm thông, chia sẻ nỗi đau của bệnh nhân.

Đồng thời, không ngừng học hỏi, nghiên cứu khoa học để nâng cao tay nghề, giữ trọn y đức, vững vàng y thuật để phục vụ Nhân dân.

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đội ngũ y, bác sĩ của nước nhà cũng vượt qua nghịch cảnh, tất cả vì sức khỏe của Nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn, đội ngũ y, bác sĩ vẫn còn một số trăn trở và áp lực trong quá trình hành nghề.

Đó là số lượng bệnh nhân đông, đặc biệt ở tuyến trung ương; phải làm việc với cường độ cao, trực đêm liên tục; áp lực chuyên môn lớn; thu nhập của đội ngũ y, bác sĩ, đặc biệt ở tuyến cơ sở, chưa tương xứng với thời gian đào tạo và trách nhiệm nghề nghiệp; chênh lệch điều kiện làm việc giữa thành thị và vùng sâu, vùng xa còn lớn...

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, đội ngũ y, bác sĩ nước nhà đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, đó là đưa nền y học từ thiếu thốn, lạc hậu trở thành một nước có nền y thuật tiệm cận với các nước tiên tiến trên thế giới; những vấn đề còn bất cập, hạn chế cần phải có các giải pháp đồng bộ để khắc phục, đó không thuộc về đội ngũ y, bác sĩ, mà thuộc về vai trò của Nhà nước.

NGUYÊN CHƯƠNG

Nguồn Đồng Tháp: https://baodongthap.vn/giu-tron-y-duc-vung-vang-y-thuat-a237334.html