Giữ vị thế vùng nông sản tỷ USD - Bài cuối: Minh bạch nguồn gốc, củng cố chuỗi liên kết

Từ những vườn cây đổi cách chăm sóc đến doanh nghiệp tìm cách làm rõ nguồn hàng, nông nghiệp Tây Nguyên đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại sản xuất để chất lượng được thị trường ghi nhận. Với những ngành hàng tham gia sâu vào thị trường quốc tế, nâng tầm Tây Nguyên phải bắt đầu từ khả năng cung ứng ổn định, minh bạch nguồn gốc và làm chủ những khâu tạo thêm giá trị.

Sầu riêng đã tạo thành ngành hàng tỷ đô cho Đắk Lắk.

Sầu riêng đã tạo thành ngành hàng tỷ đô cho Đắk Lắk.

Nâng tầm vùng nguyên liệu trên bản đồ nông sản thế giới

Nuôi dưỡng đất để đất nuôi cây là cách ông Mai Đình Thọ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp sạch, xã K’rông Pắk, tỉnh Đắk Lắk, nói về thay đổi trong chăm sóc hơn 200 ha sầu riêng. Theo ông, hợp tác xã ứng dụng công nghệ số, dùng thiết bị cảm biến theo dõi các chỉ số của đất để điều chỉnh chăm sóc, đồng thời công khai thông tin mã số vùng trồng.

Với người trồng, mỗi vụ là một khoản đầu tư từ phân bón, công chăm sóc đến thu hoạch. Cách làm của hợp tác xã đặt nền đất và nhu cầu của cây vào trước quyết định sử dụng vật tư. Thông tin vùng trồng được công khai cũng mở thêm một bước: sản phẩm cần chứng minh được nơi sản xuất và quá trình làm ra nó, thay vì chỉ được đánh giá khi quả đã rời vườn.

Một nghịch lý trong đầu tư được Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) chỉ ra qua khảo sát 150 vườn hồ tiêu: 82% mẫu đất tích lũy thừa lân, trong khi 57,6% vườn thiếu kali. Theo Viện, chăm sóc cần gắn sức khỏe đất với bộ rễ, dinh dưỡng và dịch hại. Bón thêm chưa chắc đem lại hiệu quả nếu nguyên nhân nằm ở đất chua, bộ rễ suy yếu hoặc dinh dưỡng mất cân đối.

Khoa học giúp giảm phần đầu vào lãng phí, nhưng khoản đầu tư cho chất lượng còn cần được bảo vệ ở khâu tiêu thụ. Với cây lâu năm, đó là sự tính toán qua nhiều vụ. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp lưu ý, lúa có thể dừng gieo cấy một vụ rồi sản xuất trở lại, nhưng cà phê, hồ tiêu, sầu riêng nếu bị hạn làm suy kiệt có thể mất từ 5 đến 7 năm mới phục hồi.

Nông dân tỉnh Đắk Lắk thu hoạch sầu riêng xuất khẩu.

Nông dân tỉnh Đắk Lắk thu hoạch sầu riêng xuất khẩu.

Tại xã Tam Giang, tỉnh Đắk Lắk và xã Thuận An, tỉnh Lâm Đồng, 24 hộ dân tham gia mô hình chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp trên 50 ha sầu riêng, gắn với liên kết tiêu thụ. Dự án do Viện Bảo vệ thực vật chủ trì ghi nhận hiệu quả kinh tế tăng trên 20% so với sản xuất đại trà; sản phẩm đạt VietGAP và được dán tem truy xuất nguồn gốc.

Cùng dự án, hai mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh theo chuỗi được xây dựng với 120 hộ tham gia. Các bên có kế hoạch sản xuất, thu mua và hợp đồng tiêu thụ; doanh nghiệp cam kết tiêu thụ trên 80% sản phẩm. Khác biệt nằm ở chỗ người mua tham gia tổ chức nguồn hàng, thay vì chỉ xuất hiện lúc thu hoạch.

Tuy nhiên, những liên kết ấy chưa trở thành cách làm phổ biến. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, một số cây ăn quả phát triển nhanh nhưng chưa gắn với khả năng tiêu thụ, chế biến và điều kiện cấp mã vùng trồng. Diện tích có hợp đồng bao tiêu ổn định còn thấp; với cây công nghiệp, doanh nghiệp vẫn thận trọng khi ký hợp đồng dài hạn. Năng lực sơ chế, bảo quản và chế biến của một số hợp tác xã còn hạn chế.

Vị thế của Tây Nguyên trên bản đồ nông sản thế giới vì vậy cần được củng cố bằng năng lực tổ chức cả chuỗi, từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm đáp ứng yêu cầu của người mua quốc tế. Điểm nghẽn nằm cả ở khoảng cách giữa vườn cây và thị trường. Người trồng cần biết tiêu chuẩn để đầu tư; doanh nghiệp cần nguồn hàng đủ ổn định để cam kết. Nếu mỗi bên chỉ tính phần việc của mình, chất lượng khó được duy trì đồng đều, còn hợp đồng khó đi qua những thời điểm giá biến động.

Trung tâm Khuyến nông quốc gia đề nghị chuyển từ mô hình trình diễn đơn lẻ sang gói giải pháp gắn kỹ thuật với tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng và thị trường. Ngay khi xây dựng mô hình phải tính đến đầu ra, sơ chế, bảo quản và khả năng duy trì sau hỗ trợ. Đó cũng là bước chuyển từ một vườn làm tốt sang một vùng nguyên liệu có thể cung ứng ổn định.

Dữ liệu chung để giữ thị trường và giá trị

Ở Gia Lai, ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, chỉ ra vướng mắc từ chính hoạt động thu mua: Một hộ có thể bán cà phê cho nhiều doanh nghiệp. Nếu mỗi bên xây dữ liệu riêng, thiếu đối chiếu và đồng bộ, cùng vùng trồng có thể xuất hiện trong nhiều hồ sơ, làm tăng rủi ro khi khách hàng kiểm tra.

Vĩnh Hiệp đã đầu tư rà soát, xác minh dữ liệu vùng nguyên liệu, phối hợp với đơn vị chuyên môn và chính quyền thu thập thông tin từng hộ, từng thửa đất, cập nhật tọa độ, diện tích. Ông Hiệp kiến nghị địa phương thống nhất dữ liệu vùng nguyên liệu, có cơ chế đối chiếu để hạn chế chồng lấn. Việc một doanh nghiệp tự làm chưa đủ giải quyết vấn đề của cả chuỗi cung ứng.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tỉnh Lâm Đồng xuất khẩu 162.742 tấn cà phê nhân, trị giá 622 triệu USD.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tỉnh Lâm Đồng xuất khẩu 162.742 tấn cà phê nhân, trị giá 622 triệu USD.

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, hồ sơ nguồn gốc, lịch sử sử dụng đất ở một số vùng còn thiếu; dữ liệu giữa cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất chưa đồng bộ, chưa có hệ thống dùng chung để cập nhật, kiểm tra, truy xuất. Chi phí đo đạc, lập bản đồ và duy trì hệ thống còn cao. Số hóa vì thế cần giải quyết cả khả năng chia sẻ, sử dụng thông tin.

PGS.TS. Mai Văn Trịnh, Viện Môi trường Nông nghiệp, đề xuất kết nối dữ liệu địa chính với thông tin đất, nước, khí hậu và cây trồng. Ông Nguyễn Duy Quân, Công ty cổ phần Công nghệ và Giải pháp OGORI Blockchain Việt Nam, đề xuất dữ liệu dùng chung cấp vườn, gắn định danh với ranh giới, nhật ký và hồ sơ kiểm nghiệm. Các hướng này cần được thử nghiệm, nhưng cùng đặt mục tiêu để dữ liệu phục vụ sản xuất và chứng minh chất lượng. Đây cũng là cơ sở ghi nhận nỗ lực tuân thủ của người trồng trong giao dịch.

Tại Lâm Đồng, số hóa đã được đặt cùng yêu cầu liên kết dài hạn trong kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu giai đoạn 2026 - 2030. Kế hoạch số 17475/KH-UBND ngày 13/10/2026 yêu cầu vùng nguyên liệu được hỗ trợ có hợp tác xã hoặc tổ hợp tác đầu mối, có doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ từ ba năm trở lên.

Tỉnh đặt mục tiêu diện tích vùng nguyên liệu được hỗ trợ đều có bản đồ số, tích hợp tọa độ định danh ranh giới lô, thửa; ít nhất 70% diện tích áp dụng nhật ký sản xuất điện tử. Đi cùng là yêu cầu minh bạch tiêu chuẩn chất lượng, cách xác định giá mua và trách nhiệm hợp đồng. Đây là những mục tiêu triển khai, nối việc xây dựng dữ liệu với cách tổ chức sản xuất và đầu ra.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thiên Văn đặt vấn đề làm sạch dữ liệu đất đai ngay trong quá trình cấp mã vùng trồng. Thửa đất lệch tọa độ, ranh giới cần được rà soát để thông tin gắn đúng với hộ dân và diện tích canh tác. Ông đề nghị bố trí kinh phí tập huấn, hỗ trợ thiết lập mã vùng trồng cho sản phẩm chủ lực, tạo điều kiện để cán bộ xã, khuyến nông và các hiệp hội tham gia.

Nguồn lực ấy cần theo kịp nhiệm vụ. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, hệ thống quản lý, cấp mã toàn trình trên môi trường điện tử chưa được bàn giao, hướng dẫn và vận hành đồng bộ; một số nơi thiếu người, kinh phí kiểm tra và hậu kiểm. Việc ghi nhật ký, truy xuất, kiểm soát dư lượng ở một số vùng còn mang tính hình thức. Cấp mã thuận lợi hơn phải đi cùng giám sát đủ chặt để mã số thực sự bảo đảm nguồn gốc hàng hóa.

Ông Nguyễn Thiên Văn đề nghị doanh nghiệp liên kết với nông dân từ đầu vào, canh tác đến thu hoạch, đóng gói và xuất khẩu. Muốn giữ thêm giá trị, tỉnh cần thu hút doanh nghiệp tham gia chế biến, phát triển khu, cụm công nghiệp và các dịch vụ kiểm nghiệm, kiểm dịch, chiếu xạ. Vùng nguyên liệu lớn phải có những khâu sau thu hoạch đủ năng lực tiếp nhận và phát triển sản phẩm.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nông sản, tổ chức sản xuất đúng quy trình và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp. Đó cũng là những phần việc phải nối liền khi Tây Nguyên chuyển từ lợi thế vùng nguyên liệu lớn sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị.

Từ cách nuôi đất của ông Mai Đình Thọ đến nhu cầu dữ liệu chung của ông Thái Như Hiệp, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi từng vườn cây. Khoa học giúp sản xuất tốt hơn; dữ liệu giúp chứng minh chất lượng; liên kết đưa nguồn hàng đến thị trường. Giữ giá trị cho Tây Nguyên đòi hỏi những phần việc ấy được tổ chức thành một chuỗi, người trồng có cam kết đầu ra, doanh nghiệp có nguyên liệu tin cậy và địa phương phát triển thêm năng lực chế biến từ chính nông sản của mình.

Bài và ảnh: Kha Phạm/TTXVN

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/giu-vi-the-vung-nong-san-ty-usd-bai-cuoi-minh-bach-nguon-goc-cung-co-chuoi-lien-ket-post1396239.html