Giữ vững 'Bốn kiên định' trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Bài 2: 'Bốn kiên định' - Nguyên tắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Kiên định bảo vệ vững chắc hệ chính trị, tư tưởng của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, Quy định số 19-QĐ/TW ngày 8-4-2026 đã xác lập hệ thống nguyên tắc gồm “Bốn kiên định” có giá trị bất biến và trường tồn cùng dân tộc. Đây được coi là những “nguyên tắc vàng” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Ý nghĩa “Bốn kiên định” trong bối cảnh hiện nay

Quy định số 19-QĐ/TW xác định quan điểm “bất di, bất dịch” trong công tác chính trị, tư tưởng là lấy mục tiêu kiên trì, bảo vệ và phát huy “Bốn kiên định” làm định hướng hành động; mọi hoạt động của tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên phải nhất quán tuyệt đối về chính trị, tư tưởng. Quán triệt quan điểm này, yêu cầu đặt ra đối với các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương là phải chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, đánh giá, định hướng dư luận xã hội và dự báo sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước để kịp thời định hướng chính trị, tư tưởng trong Đảng, trong xã hội, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, không để bị động, bất ngờ.

Trước hết, việc “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” thể hiện bản lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng. Đây chính là sự kiên trì giữ vững nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng và phức tạp. Quan trọng hơn, sự kiên định ấy không mang tính giáo điều, khép kín, mà luôn gắn với tinh thần vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại. Trên cơ sở đó, Đảng chủ động tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại, thành tựu khoa học - công nghệ và kinh nghiệm phát triển quốc tế để hoạch định chủ trương, đường lối đúng đắn, đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Việc kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp Đảng có nền tảng lý luận khoa học để nhận diện đúng quy luật phát triển và xử lý các vấn đề mới nảy sinh. Đặc biệt, xét trong bối cảnh hiện nay, việc giữ vững bản chất cách mạng, trung thành với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ là nền móng vững chắc để Đảng ta lãnh đạo đất nước phù hợp với thực tiễn và yêu cầu thời đại, qua đó đưa dân tộc tiến lên trong kỷ nguyên mới.

 Trung tướng, TS Lê Văn Duy, Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân 1 trao đổi với các đại biểu tham dự Tọa đàm "Mỗi cán bộ, giảng viên, học viên là một tuyên truyền viên pháp luật", ngày 15-12-2025.

Trung tướng, TS Lê Văn Duy, Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân 1 trao đổi với các đại biểu tham dự Tọa đàm "Mỗi cán bộ, giảng viên, học viên là một tuyên truyền viên pháp luật", ngày 15-12-2025.

Thứ hai, việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn mang tính lịch sử, chính trị và quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam. Đây không chỉ là sự kế thừa thành quả của hơn 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 81 năm xây dựng Nhà nước và 40 năm Đổi mới, mà còn là nền tảng giữ vững bản sắc chính trị và định hướng phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu đầy biến động. Thực tiễn đã khẳng định, chỉ trên nền tảng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Việt Nam mới bảo đảm được chủ quyền quốc gia, ổn định chính trị, phát triển bền vững và nâng cao đời sống nhân dân. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, là nền móng vững chắc để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bước vào giai đoạn cách mạng mới. Sự kiên định ấy đồng thời củng cố niềm tin, ý chí và bản lĩnh cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo động lực tinh thần to lớn để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng.

Việc Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội sẽ giúp bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng ta cũng luôn có niềm tin vững chắc, bản lĩnh sắt đá, ý chí kiên cường để vượt qua mọi thác ghềnh thử thách, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ vinh quang.

Thứ ba, việc “kiên định đường lối đổi mới của Đảng” thể hiện tư duy chiến lược, bản lĩnh chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo phát triển đất nước. Đảng ta xác định đổi mới không phải giải pháp tình thế mà là yêu cầu khách quan, mang tính quy luật của quá trình phát triển trong bối cảnh thế giới luôn vận động nhanh chóng và phức tạp. 40 năm đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối này khi đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và từng bước nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Kiên định đổi mới trong giai đoạn hiện nay không có nghĩa là đổi mới bằng mọi giá, mà là đổi mới trên nền tảng giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo đảm hài hòa giữa ổn định và phát triển, giữa hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc chính trị dân tộc.

Việc Đảng ta kiên định đường lối đổi mới sẽ tạo động lực phát triển, nâng cao nội lực quốc gia và khả năng thích ứng với thời đại số. Trong kỷ nguyên dân tộc vươn mình lên giàu mạnh, thịnh vượng, việc kiên định đường lối đổi mới càng có ý nghĩa sâu sắc và đã được khẳng định tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng với các mục tiêu chiến lược, từng bước đưa nước ta trở thành nước phát triển, nhân dân có thu nhập cao, chất lượng cuộc sống tốt.

Thứ tư, với “kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, Đảng xác định vai trò lãnh đạo toàn diện trong công cuộc xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới và xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vững mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Kiên định mục tiêu, lý tưởng xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, Đảng thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực cầm quyền, năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành những thắng lợi to lớn hơn nữa, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng là điều kiện sống còn để giữ vững sự đoàn kết, trong sạch và năng lực cầm quyền của Đảng. Đảng ta kiên định xây dựng tổ chức trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đảng ta xác định đây là những vấn đề sống còn, nhân tố quyết định đến vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.

Phải khẳng định, đây là lần đầu tiên, Đảng ta ban hành một quy định nhằm thể chế hóa “Bốn kiên định” một cách hệ thống, thống nhất, khẳng định bước phát triển mới về tư duy lý luận trong xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.

Quan trọng hơn, trong bối cảnh “chiến tranh nhận thức” hiện nay, “Bốn kiên định” trở thành là “lá chắn tư tưởng” giúp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giữ vững bản lĩnh chính trị, tăng sức đề kháng trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá; đồng thời củng cố niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

“Tấm khiên” ngăn chặn suy thoái và chống phá từ bên ngoài

Phải khẳng định, “Bốn kiên định” là hệ tư tưởng, là “tấm khiên” ngăn chặn suy thoái từ trong nội bộ và sự chống phá từ bên ngoài. Từ đó, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân miễn nhiễm với thông tin xấu độc, chủ động và cảnh giác với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

Xét tổng thể, “Bốn kiên định” tạo thành một chỉnh thể thống nhất, có mối liên hệ hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau, phản ánh bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược và tính nhất quán trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận cho mọi quyết sách phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Trên nền tảng đó, Đảng ta giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - mục tiêu xuyên suốt, nhất quán của cách mạng Việt Nam suốt 96 năm qua. Đồng thời, kiên định đường lối đổi mới chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng ấy vào thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Sự gắn kết chặt chẽ giữa các yếu tố này tạo nên “trục ổn định chiến lược”, giúp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giữ vững phương hướng, củng cố niềm tin, nâng cao bản lĩnh chính trị và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam được đề ra tại Đại hội XIV của Đảng.

Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới để tiến lên hùng cường, thịnh vượng, việc bảo vệ những giá trị cốt lõi nền tảng tư tưởng của Đảng luôn là nhiệm vụ xuyên suốt và đặc biệt quan trọng. Hơn nữa, xét trong bối cảnh mới, việc vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ phục vụ cho công cuộc đổi mới ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn. “Bốn kiên định” vì thế không chỉ là yêu cầu về chính trị, tư tưởng, mà còn là “trục ổn định chiến lược” bảo đảm cho Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo, cho đất nước giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và cho xã hội duy trì sự thống nhất về ý chí, niềm tin và hành động.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, thực hiện “Bốn kiên định” không chỉ là yêu cầu về chính trị, tư tưởng mà còn là cơ sở nền tảng bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội - nguyên tắc sống còn quyết định bản chất cách mạng, mục tiêu chiến đấu và sức mạnh của Quân đội ta. Trên nền tảng đó, Quân đội tiếp tục thực hiện hiệu quả “Hai kiên định”, “Hai đẩy mạnh”, “Hai ngăn ngừa”, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao.

Cụ thể, “Hai kiên định”: Kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. “Hai đẩy mạnh”: Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. “Hai ngăn ngừa”: Ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân.

Các nhiệm vụ nêu trên không chỉ là yêu cầu xây dựng lực lượng vững mạnh, mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm chủ động phòng ngừa nguy cơ từ sớm, từ xa. Từ đó, Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vai trò nòng cốt, là “lá chắn thép” trong việc phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ, đồng thời kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

“Bốn kiên định” là hệ nguyên tắc mang tính định hướng chính trị quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên số. Quân đội muốn giữ vững bản chất cách mạng và mục tiêu chiến đấu, trước hết phải giữ vững trục tư tưởng của mình. Chính “Bốn kiên định” tạo nên nền tảng để toàn quân thống nhất về ý chí, nhận thức và hành động; bảo đảm Quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân trong mọi tình huống. Nếu vũ khí, trang bị là “sức mạnh cứng” thì “Bốn kiên định” chính là hệ điều hành lõi tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần, giữ cho Quân đội luôn vững vàng về bản lĩnh, sắc bén về nhận thức và tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của mình.

Tựu trung, “Bốn kiên định” là trụ cột giữ vững mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng trong mọi hoàn cảnh; là “chuẩn mực”, nền tảng để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta.

********

Việc Đảng ta xác lập hệ thống nguyên tắc “Bốn kiên định” cho thấy tầm nhìn chiến lược về phát triển đất nước trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc. Hiện nay, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh nhận thức, xung đột giá trị, sự bùng nổ của không gian mạng và tác động đa chiều của toàn cầu hóa đang tạo ra những thách thức rất lớn đối với ổn định chính trị, niềm tin xã hội và bản sắc chính trị của mỗi quốc gia. Trong điều kiện đó, nếu không giữ vững nền tảng tư tưởng và mục tiêu chiến lược, đất nước rất dễ rơi vào dao động về nhận thức, lệch hướng phát triển hoặc suy giảm sức mạnh đoàn kết dân tộc. 

Từ yêu cầu thực tiễn đó, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ dừng lại ở nhận thức đúng về ý nghĩa chiến lược của “Bốn kiên định”, mà quan trọng hơn là phải cụ thể hóa thành các giải pháp đồng bộ, hiệu quả trong toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội. Việc giữ vững “Bốn kiên định” cần được triển khai toàn diện từ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; củng cố niềm tin của nhân dân; bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng đến phát triển kinh tế, văn hóa, con người và tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh. Đây chính là điều kiện nền tảng để đất nước giữ vững ổn định, phát triển nhanh, bền vững.

(còn nữa)

NGUYỄN QUANG CHUNG - ĐỖ THỊ MINH NGUYỆT - NGUYỄN THỊ GIANG

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/giu-vung-bon-kien-dinh-trong-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-bai-2-bon-kien-dinh-nguyen-tac-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-1053456