Giữ vững trận địa tư tưởng trên không gian số - Kỳ 3: 'Thế trận lòng dân' - thành trì bền vững nhất trên không gian mạng

Không có bức tường lửa nào có thể thay thế được niềm tin xã hội, cũng không có thuật toán nào đủ mạnh để bảo vệ một cộng đồng thiếu năng lực tự phân biệt đúng - sai. Khi Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, vấn đề cốt lõi không chỉ là công nghệ hay lực lượng chuyên trách. Đó là việc hình thành một xã hội số có bản lĩnh, có văn hóa, có khả năng đối thoại và cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải là một điểm tựa của niềm tin

Nếu coi không gian mạng là một mặt trận đặc biệt của thời đại số thì cán bộ, đảng viên không thể đứng ngoài mặt trận ấy. Quy định số 85-QĐ/TW ngày 7-10-2022 của Ban Bí thư về việc cán bộ, đảng viên thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên Internet, mạng xã hội đã đặt ra yêu cầu về trách nhiệm, kỷ luật và nêu gương trong môi trường số. Nhưng tôi cho rằng điều cần nhấn mạnh không phải là biến mỗi cán bộ, đảng viên thành một người chuyên “tranh luận trên mạng”. Vai trò tiên phong trước hết phải được thể hiện ở tư cách một công dân số gương mẫu: Tôn trọng sự thật, không chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng, ứng xử văn minh, bảo vệ bí mật, dữ liệu, và có khả năng giải thích chính sách bằng ngôn ngữ gần gũi với người dân.

Trong nhiều cuộc tranh luận trên mạng, cách phản bác đôi khi lại làm cho đối đầu sâu thêm vì sử dụng giọng điệu áp đặt, nhãn dán hoặc miệt thị. Điều đó không phù hợp với yêu cầu thuyết phục. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh trong chỉ đạo về công tác tư tưởng ngày 15-6-2026 rằng công nghệ, dữ liệu và AI rất quan trọng nhưng không thể thay thế bản lĩnh chính trị, nền tảng lý luận, đạo đức cách mạng, năng lực đối thoại, trách nhiệm nêu gương và sức thuyết phục của cán bộ, đảng viên. Đây chính là điểm cốt lõi. Trong môi trường số, người dân không chỉ đọc nội dung cán bộ viết; họ còn quan sát cách cán bộ tranh luận, cách cán bộ tiếp nhận phê bình và sự nhất quán giữa lời nói trên mạng với hành động ngoài đời.

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn  

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn  

Một cán bộ có thể đăng nhiều thông tin tích cực, nhưng nếu trong thực tế lại chậm giải quyết hồ sơ, né tránh trách nhiệm hoặc vô cảm trước kiến nghị của người dân thì rất khó tạo ra niềm tin. Ngược lại, một lời xin lỗi đúng lúc, một việc khó được giải quyết đến cùng, một chính sách được giải thích thẳng thắn, một sai sót được công khai sửa chữa chính là những “thông điệp” có sức mạnh lớn trên không gian mạng. Bởi vậy, nêu gương số không thể tách khỏi nêu gương trong đời sống thực. Bảo vệ uy tín của Đảng trước hết phải bằng chất lượng công vụ, liêm chính, trách nhiệm và sự gần dân.

Tôi cũng cho rằng cần khuyến khích cán bộ, đảng viên có chuyên môn tham gia tích cực hơn vào không gian số theo đúng sở trường. Một bác sĩ có thể giúp cộng đồng phân biệt tin giả về sức khỏe; một nhà giáo có thể hướng dẫn kỹ năng học tập và an toàn số; một cán bộ pháp luật có thể giải thích quy định mới; một cán bộ cơ sở có thể trả lời những câu hỏi rất cụ thể về thủ tục, chế độ, quyền lợi. Khi mỗi người trở thành một “địa chỉ nhỏ” nhưng đáng tin, hệ sinh thái thông tin sẽ có thêm hàng triệu điểm tựa. Đó là cách lan tỏa thông tin đúng tự nhiên hơn rất nhiều so với những chiến dịch tuyên truyền chỉ diễn ra theo đợt.

Nhưng cùng với khuyến khích phải là đào tạo. Cán bộ, đảng viên cần được trang bị kỹ năng xác minh nguồn, nhận diện deepfake, an toàn dữ liệu, xử lý khủng hoảng thông tin và văn hóa tranh luận. Công tác tư tưởng trong thời đại số không thể chỉ đo bằng số bài đăng, lượt chia sẻ hay số lớp tập huấn. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu, hiệu quả phải được nhìn vào chuyển biến trong nhận thức, hành động, kỷ luật thực thi, khả năng định hướng dư luận, đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân. Cách đo ấy đưa công tác tư tưởng trở về với mục tiêu cuối cùng: Tạo ra sức mạnh xã hội chứ không phải tạo ra thật nhiều sản phẩm truyền thông.

Xây “màng lọc số” từ văn hóa và giáo dục

Một “thế trận lòng dân” bền vững không thể chỉ dựa trên lực lượng chuyên trách và đội ngũ cán bộ. Chủ thể rộng lớn nhất vẫn là nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ - những người đang sống phần lớn thời gian trong môi trường số. Gen Z và Alpha là những “bản địa số”, nhưng thành thạo thiết bị không đồng nghĩa với miễn nhiễm trước thao túng. Trái lại, tốc độ tiếp nhận thông tin cao, thói quen xem video ngắn, tâm lý sợ bỏ lỡ xu hướng và cơ chế đề xuất cá nhân hóa có thể khiến người trẻ dễ rơi vào “buồng vang”, nơi họ chỉ gặp những quan điểm giống với điều mình đã tin trước đó.

Vì vậy, giáo dục chính trị, tư tưởng cho người trẻ phải thay đổi mạnh về phương pháp. Không thể chỉ đưa nguyên nội dung cũ lên nền tảng mới rồi gọi đó là chuyển đổi số. Người trẻ cần được đối thoại, được đặt câu hỏi, được tranh luận và được tự tìm bằng chứng. Lịch sử có thể được kể bằng phim ngắn, podcast, trò chơi, bản đồ số, không gian thực tế ảo; vấn đề chính sách có thể được tiếp cận qua mô phỏng nghị trường, tranh biện, dự án cộng đồng hoặc sáng tạo nội dung. Khi người trẻ tự mình tìm kiếm, kiểm chứng và trình bày một câu chuyện về đất nước, ký ức chiến tranh, chủ quyền, văn hóa hay một chính sách đang tác động đến đời sống, tri thức ấy sẽ trở thành trải nghiệm cá nhân chứ không chỉ là thông tin được truyền đạt.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển văn hóa và yêu cầu “xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, làm trong sạch môi trường văn hóa số”. Tôi cho rằng đây là một định hướng có quan hệ trực tiếp với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng. Một xã hội có văn hóa đối thoại, tôn trọng sự thật, đề cao lòng nhân ái, trung thực và trách nhiệm sẽ có sức đề kháng tốt hơn trước thông tin kích động và chia rẽ. Ngược lại, nếu đời sống số bị chi phối bởi thói quen nhục mạ, “đấu tố”, tung tin chưa kiểm chứng, coi xúc phạm người khác là giải trí, thì dù có xử lý bao nhiêu tài khoản vi phạm, môi trường ấy vẫn tiếp tục sản sinh độc hại.

Do đó, cần coi năng lực thông tin và truyền thông là một năng lực công dân cơ bản. Trẻ em và thanh niên phải được học cách kiểm tra nguồn, phân biệt sự kiện với bình luận, nhận diện hình ảnh do AI tạo ra, hiểu cơ chế hoạt động của thuật toán, nhận biết nội dung đang cố kích thích giận dữ hoặc sợ hãi để buộc mình chia sẻ. Tôi thường hình dung mỗi người trẻ cần có một “màng lọc số” với 4 câu hỏi rất đơn giản: Nguồn ở đâu; bằng chứng nào; còn cách giải thích nào khác; việc chia sẻ nội dung này có thể gây hậu quả gì. Nếu những câu hỏi ấy trở thành thói quen, rất nhiều chiến dịch thao túng sẽ mất tác dụng ngay từ người dùng cuối.

Quan trọng hơn, chúng ta phải đưa người trẻ từ vị trí người “được giáo dục” thành chủ thể sáng tạo văn hóa và truyền thông tích cực. Hãy để họ làm video về lịch sử địa phương, xây các dự án kiểm chứng tin giả, số hóa ký ức của cựu chiến binh, kể câu chuyện về người lính, về biên giới, biển đảo, về những đổi thay ở quê hương, về những người bình dị đang cống hiến. Người trẻ có ngôn ngữ, nhịp điệu và cách kể riêng của thế hệ mình. Khi những giá trị yêu nước, trách nhiệm, nhân ái, tự cường được kể bằng tiếng nói của chính họ, sức lan tỏa sẽ tự nhiên hơn, thuyết phục hơn và khó bị xem là giáo điều.

Cũng phải thừa nhận rằng giáo dục tư tưởng chỉ có sức sống khi các giá trị được nói tới hiện diện trong thực tiễn. Người trẻ rất nhạy với sự không nhất quán. Nếu chúng ta nói về liêm chính nhưng họ thấy tiêu cực không được xử lý; nói về công bằng nhưng họ gặp sự thiếu công bằng; nói về lắng nghe nhưng ý kiến chính đáng bị bỏ qua, thì mọi nội dung truyền thông đều suy giảm sức thuyết phục. Vì vậy, “màng lọc số” không chỉ được tạo ra bởi trường học. Nó được bồi đắp từ cách gia đình đối thoại, nhà trường tôn trọng người học, cơ quan công quyền ứng xử với dân và xã hội đối xử với sự thật.

Từ “thành trì số” đến sức mạnh bên trong của xã hội

Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng không phải ngẫu nhiên. Trong lịch sử bảo vệ Tổ quốc, “thế trận lòng dân” luôn là nền tảng sâu xa của mọi thế trận khác. Trong thời đại số cũng vậy. Công nghệ có thể giúp phát hiện sớm một chiến dịch tung tin; pháp luật có thể xử lý hành vi vi phạm; nền tảng có thể gỡ bỏ nội dung; báo chí có thể kiểm chứng. Nhưng nếu người dân không còn tin vào nguồn chính thống, nếu họ cảm thấy mình không được lắng nghe, nếu xã hội thiếu khả năng đối thoại thì những giải pháp kỹ thuật chỉ có thể xử lý phần ngọn.

Ngày 15-6-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh một nhiệm vụ lâu dài là xây dựng hệ sinh thái thông tin tích cực và phát huy vai trò của nhân dân; nhân dân không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn là chủ thể xây dựng niềm tin, bảo vệ nền tảng tư tưởng và hình thành thế trận lòng dân trên không gian mạng. Tôi cho rằng đây là cách tiếp cận rất quan trọng. Nó chuyển người dân từ đối tượng cần “tuyên truyền” thành chủ thể có năng lực, có tiếng nói và có trách nhiệm. Chỉ khi người dân được tham gia, được biết, được kiểm chứng, được phản hồi và được bảo vệ trước lừa đảo, thao túng, xâm hại dữ liệu, họ mới thật sự trở thành một phần của sức mạnh bảo vệ không gian số quốc gia.

Từ góc nhìn ấy, một “thành trì số” Việt Nam cần ít nhất năm lớp gắn chặt với nhau. Lớp thứ nhất là thể chế minh bạch, đủ sức xử lý hành vi gây hại nhưng đồng thời bảo vệ quyền biểu đạt hợp pháp và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Lớp thứ hai là hạ tầng công nghệ, dữ liệu và năng lực tự chủ đủ mạnh để xác thực, giám sát rủi ro và không lệ thuộc hoàn toàn vào nền tảng bên ngoài. Lớp thứ ba là một hệ sinh thái báo chí, truyền thông và nội dung số có chất lượng, đủ sức cạnh tranh với dòng nội dung giật gân. Lớp thứ tư là cộng đồng công dân có kỹ năng số, biết tự bảo vệ mình và chịu trách nhiệm với hành vi chia sẻ. Lớp thứ năm, sâu nhất, là văn hóa, đạo đức và niềm tin xã hội.

Năm lớp ấy không thể hoạt động riêng rẽ. Một cơ quan chức năng phát hiện deepfake nhưng nền tảng phản ứng chậm thì thông tin giả vẫn lan rộng; nền tảng gỡ nhanh nhưng báo chí không kịp xác minh thì công chúng vẫn hoang mang; báo chí giải thích tốt nhưng cơ quan có trách nhiệm né tránh câu hỏi thì niềm tin vẫn suy giảm; người dân có kỹ năng số nhưng chính sách thiếu minh bạch thì tin đồn vẫn có đất sống. Vì vậy, mắt xích cần củng cố mạnh nhất hiện nay là năng lực phối hợp dựa trên dữ liệu, trách nhiệm rõ ràng và niềm tin. Cần có quy trình phản ứng nhanh liên ngành, hệ thống cảnh báo sớm, đầu mối xác minh, chuẩn dữ liệu chung và cơ chế hợp tác thường xuyên với các nền tảng.

Bản sắc Việt Nam của “thành trì số” cũng không thể được hiểu là khép cửa hoặc chỉ chấp nhận một kiểu tiếng nói. Bản sắc nằm ở khả năng hội nhập mà không hòa tan; tranh luận nhưng không chia rẽ; cởi mở với cái mới nhưng giữ được lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, nhân ái, nghĩa tình và trách nhiệm. Một không gian mạng Việt Nam lành mạnh phải đủ rộng cho sáng tạo, đủ mở cho phản biện, đủ nghiêm với lừa dối và kích động, đồng thời đủ nhân văn để bảo vệ danh dự, quyền riêng tư và phẩm giá con người. Đó cũng là cách chúng ta chuyển những giá trị văn hóa truyền thống thành sức mạnh của xã hội số hiện đại.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, suy cho cùng, không phải là dựng một bức tường ngăn người dân tiếp xúc với thông tin khác biệt. Trong một thế giới mở, điều đó vừa không thể, vừa không nên. Điều cần thiết là xây dựng sức mạnh bên trong để xã hội đủ khả năng nhận biết, phân tích và lựa chọn; để cán bộ đủ uy tín thuyết phục; để báo chí đủ tin cậy dẫn dắt; để pháp luật đủ minh bạch bảo vệ; để công nghệ đủ mạnh hỗ trợ; và để mỗi người dân cảm thấy mình là chủ thể của đất nước, có trách nhiệm với sự thật và lợi ích chung.

Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt yêu cầu nâng cao niềm tin xã hội, đối thoại và thuyết phục, nắm tình hình bằng dữ liệu, dự báo và cảnh báo từ sớm, từ xa, đó cũng là lời gợi mở cho một phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng phù hợp với kỷ nguyên số: Kiên định về nền tảng nhưng hiện đại về phương thức; sắc bén nhưng không cực đoan; quyết liệt nhưng luôn dựa trên sự thật và tính nhân văn. Không có bức tường lửa nào thay thế được lòng dân. Và khi lòng dân đã vững, mỗi công dân có bản lĩnh số, mỗi cán bộ có uy tín, mỗi tòa soạn là một địa chỉ tin cậy, mỗi nền tảng phải có trách nhiệm, thì chúng ta không chỉ có khả năng chống đỡ trước thông tin xấu độc. Chúng ta có thể chủ động kiến tạo một không gian số Việt Nam văn minh, an toàn, sáng tạo và giàu sức mạnh nội sinh - một không gian xứng đáng với khát vọng phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

PGS, TS BÙI HOÀI SƠN, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/cuoc-thi-bao-chi-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-trong-tinh-hinh-moi/giu-vung-tran-dia-tu-tuong-tren-khong-gian-so-ky-3-the-tran-long-dan-thanh-tri-ben-vung-nhat-tren-khong-gian-mang-1052948