Giữa chiến trường lính xe tăng hát dân ca Huế

HNN - Từ khi chưa nhập ngũ, lứa chúng tôi - những người sinh ra trong giai đoạn đầu những năm 50 của thế kỷ trước, ít nhiều cũng đã biết đến dân ca Huế qua chương trình 'Dân ca, nhạc cổ' của Đài Tiếng nói Việt Nam phát lúc 11 giờ 30 hàng ngày.

Đồng bào Pa Cô trong lễ hội truyền thống A Riêu Car (ảnh minh họa). Ảnh: Linh Tuệ

Đồng bào Pa Cô trong lễ hội truyền thống A Riêu Car (ảnh minh họa). Ảnh: Linh Tuệ

Thỏa nỗi ước ao

Tôi ấn tượng rất sâu sắc với mảng dân ca này, bởi nó có nhiều điểm khác biệt với các làn điệu dân ca miền Bắc mà tôi đã từng quen thuộc, nó đặc biệt quyến rũ bởi chất trữ tình, ngọt ngào, sâu lắng và phong phú về giai điệu, kỹ thuật biểu diễn.

Qua sách vở, qua những câu chuyện nghe nói gái Huế xinh xắn, dịu dàng lắm lại càng ước ao một ngày nào đó được xem các cô gái Huế biểu diễn dân ca Huế. Thật là một giấc mơ đẹp nhưng cũng hết sức xa vời vì đất nước vẫn còn đang bị chia cắt.

Năm 1972, chúng tôi hành quân vào chiến trường A Lưới (tây Thừa Thiên) sẵn sàng làm mũi vu hồi đánh xuống Huế. Sau vài tháng ở đây, chúng tôi cũng quen dần với điều kiện chiến trường. Cũng như mọi chiến trường khác, ở đây chúng tôi thiếu thốn đủ thứ: Tuy nhiên, với cánh lính trẻ chúng tôi hồi đó thì cái khát thèm lớn nhất là một bóng hình, một tiếng cười con gái! Đơn giản bởi vì nếu cứ ở trong hậu cứ thì cả năm chúng tôi cũng không gặp một ai.

Trong khi đó, gặp gỡ với các cựu binh đã ở chiến trường này lâu năm, chúng tôi được biết Khu ủy Trị Thiên có đoàn văn công hoành tráng, có dàn diễn viên nữ rất đông đảo, xinh tươi, trong đó nổi bật nhất là ba nàng “Thu” - gái Huế chính hiệu. Nếu được nghe các cô ấy hát dân ca Huế thì “hết ý”! Đó là: “Thu Sen, Thu Lưỡng, Thu Trà/ Trong ba Thu ấy anh yêu Thu nào?”.

Dù chưa hề một lần được xem văn công khu ủy, nhưng với các chàng lính xe tăng trẻ thì ba nàng “Thu” ấy đã trở nên thân thuộc và chàng nào cũng nuôi hy vọng một ngày nào đó sẽ được gặp các cô, được nghe các cô thi triển những tuyệt kỹ của mình. Nhưng ước mơ vẫn sẽ chỉ là ước mơ vì chúng tôi biết đơn vị mình thì bé tí tẹo, lại ở rõ sâu, rõ xa như thế làm sao văn công vào phục vụ được.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đơn vị chúng tôi (Tiểu đoàn Xe tăng 408) về ở tập trung tại một vị trí phía bắc sân bay A Lưới. Về đây một thời gian thì một số đơn vị bạn như: Sư đoàn Bộ binh 324, Trung đoàn Cao xạ 28… cũng về ở xung quanh. Đặc biệt, lại nghe tin khu ủy cũng ở gần đây, ngay sát chân dãy núi A Bia. Bộ đội ở tập trung thế này, lại gần khu ủy thế nào chả được xem văn công và được gặp các nàng “Thu” hát dân ca của xứ Cố đô này!

Nhưng điều đó đã không xảy ra. Thì ra đơn vị mà chúng tôi gọi là “khu ủy” ấy chỉ là một bộ phận nho nhỏ của Khu ủy Trị Thiên. Tuy nhiên, cơ quan đó cũng có vài cô nữ và có một đội văn nghệ xung kích đủ để giao lưu, biểu diễn phục vụ các đơn vị quanh đó.

Điều đặc biệt là các tiết mục chủ yếu của đội văn nghệ xung kích này là dân ca Huế. Mặc dù không phải do ba nàng “Thu” biểu diễn song cũng đủ để anh em chúng tôi thỏa nỗi ước ao về một dáng hình cô gái Huế và cảm nhận sâu sắc hơn về vẻ đẹp của các làn điệu dân ca của miền đất Cố đô này.

Vì ở khá gần nhau nên hai đơn vị thỉnh thoảng có giao lưu. Khi quan hệ giữa hai bên gần gũi hơn, các anh trong ban chỉ huy tiểu đoàn tôi đề nghị các anh chị ở đó về dạy cho nhóm hạt nhân văn nghệ của đơn vị một số làn điệu dân ca Huế. Các anh chị đó đã vui vẻ nhận lời và hẹn khi nào thư thư công việc, họ sẽ bố trí.

Ít ngày sau, hai giáo viên - một nam, một nữ đã có mặt tại tiểu đoàn tôi. Mặc dù không phải là một trong ba “Thu”, song đó cũng là một cô gái Huế chính cống. Tuy nước da có phần xanh xao vì sốt rét, song cô vẫn như bông hoa đẹp của núi rừng. Có lẽ tuổi cô có phần hơn bọn tôi song cô cứ gọi chúng tôi là anh và xưng em ngọt xớt. Không nói ra song mấy anh em học viên đều lâng lâng sung sướng.

Phải công nhận Huế là một vùng đất rất phong phú về dân ca. Sau hai ngày người dạy thì tận tâm, nhiệt tình, người học thì chăm chỉ, nghiêm túc, chúng tôi được giới thiệu khoảng gần chục làn điệu như: Các điệu hò mái nhì, mái đẩy, hò giã gạo…; cùng mấy điệu lý như: Lý Con sáo, Lý Tình tang, Lý Mười thương… Vốn đã tập tành làm thơ nên tôi nhận ra một đặc điểm là các điệu hò, điệu lý chủ yếu dựa trên nền thơ lục bát, thế là tôi nảy ra ý định sáng tác một vở ca kịch dựa theo dân ca Huế.

Đến vở ca kịch “Đường dây ai nối?”

Nghĩ là làm, cứ rỗi rãi tôi lại ngồi hí húi ghi chép, gạch xóa. Một tuần sau, vở ca kịch mang tên “Đường dây ai nối?” ra đời. Đại để câu chuyện như sau: Đường dây điện thoại giữa Tiểu đoàn bộ và Đại đội 4 bị đứt không liên lạc được, cả hai bên đều cử chiến sĩ đi nối dây. Trong lúc đó có hai bố con người dân tộc Pa Cô đi rẫy về qua. Thấy dây đứt, người bố thì bảo kệ họ, cô con gái thì muốn nối giúp.

Sau khi tranh luận căng thẳng một hồi thì ông bố đồng ý giúp. Họ nối dây điện thoại xong thì cũng bỏ đi luôn. Lúc này, hai anh lính thông tin ở hai đầu chạy lại gặp nhau nhưng không thấy đứt chỗ nào. Câu chuyện bây giờ quay sang một góc độ khác là tìm xem ai là người nối dây.

Thực ra nội dung của nó không có gì quá đặc biệt, tình tiết cũng đơn giản… nhưng cái đặc sắc của nó là được diễn tả bằng dân ca Huế nên mấy cán bộ đại đội đều rất tâm đắc và quyết định sẽ dàn dựng để tham gia hội diễn văn nghệ của tiểu đoàn sắp tới.

Và đúng là trong hội diễn đợt đó, vở ca kịch “Đường dây ai nối?” của Đại đội 4 chúng tôi đã giành giải Đặc biệt. Sau hội diễn, tiểu đoàn quyết định sẽ nâng cấp vở này đi tham gia hội diễn cấp trên.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan, vở diễn không được đem đi hội diễn quân đoàn, không được phổ biến rộng rãi và đã đi vào dĩ vãng. Song đó vẫn là một kỷ niệm đẹp về tình cảm quân dân, về tinh thần lạc quan cách mạng giữa những ngày tháng gian khổ, thiếu thốn, ác liệt ở chiến trường của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Xe tăng 408, Quân khu Trị Thiên.

Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/doi-song/giua-chien-truong-linh-xe-tang-hat-dan-ca-hue-163142.html