Gỡ điểm nghẽn cho hàng nghìn dự án tồn đọng
Hơn 3.200 dự án tồn đọng, kéo dài đã được xử lý, không còn khó khăn, vướng mắc; trong đó 842 dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng. Với các dự án còn lại, các bộ, ngành, địa phương đang tiếp tục xử lý theo thẩm quyền hoặc đề xuất cơ chế, chính sách để tháo gỡ.
Phân loại từng nhóm dự án để tháo gỡ
Việc xử lý các dự án tồn đọng, kéo dài đang được thực hiện trên cơ sở các cơ chế, chính sách được ban hành trong thời gian qua. Đáng chú ý, các bộ, cơ quan trung ương đã ban hành nhiều hướng dẫn, đồng thời tham mưu Chính phủ trình Quốc hội 5 nghị quyết và tham mưu Chính phủ ban hành 5 nghị quyết, 4 nghị định để tháo gỡ khó khăn cho các dự án.
Cùng với hoàn thiện cơ chế, Bộ Tài chính đã nâng cấp Hệ thống 751 để các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cập nhật, phân loại, theo dõi tình hình xử lý. Theo yêu cầu tại Nghị quyết số 262/NQ-CP ngày 5/9/2026, hệ thống này đã được bổ sung thông tin về nghĩa vụ tài chính của các dự án đối với ngân sách nhà nước.
Đặc biệt, ngày 22/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 58/CĐ-TTg yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương cập nhật, rà soát, phân loại và đề xuất phương án xử lý các dự án tồn đọng, kéo dài.
Đến ngày 24/9/2026, Hệ thống 751 ghi nhận 4.955 dự án khó khăn, vướng mắc trên cả nước, với tổng diện tích hơn 213.000 ha và tổng mức đầu tư hơn 3,6 triệu tỷ đồng.

Hơn 3.200 dự án tồn đọng đã được gỡ vướng, khơi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế. Ảnh minh họa
Qua phân loại, 2.510 dự án đã được giải quyết, không còn khó khăn, vướng mắc. 909 dự án thuộc diện áp dụng chính sách đặc thù theo Nghị quyết số 29/2026/QH16. Có 34 dự án thuộc thẩm quyền Quốc hội; 122 dự án thuộc thẩm quyền Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành. Các địa phương, bộ, ngành tự xử lý 1.252 dự án theo thẩm quyền; 128 dự án thuộc nhóm PPP, BT.
Kết quả xử lý cụ thể đến nay cho thấy, có 3.241 dự án với tổng diện tích 137.393,7 ha và tổng mức đầu tư 2.380.179,4 tỷ đồng đã không còn khó khăn, vướng mắc, chiếm 65,4% tổng số dự án được cập nhật.
Trong số này, 842 dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng, với diện tích hơn 19.317 ha và tổng mức đầu tư hơn 322.013 tỷ đồng. 1.835 dự án đang tiếp tục triển khai nhưng không còn vướng mắc, với diện tích 67.237,9 ha và tổng mức đầu tư 1.690.693,2 tỷ đồng. Các cơ quan cũng đã thu hồi hoặc chấm dứt 564 dự án, diện tích 50.838,5 ha, tổng mức đầu tư 367.472,4 tỷ đồng.
Ngoài số dự án đã xử lý, 1.392 dự án đã có cơ chế, chính sách tháo gỡ và đang được các bộ, ngành, địa phương tiếp tục xử lý theo thẩm quyền. Nhóm này có tổng diện tích 57.982 ha và tổng mức đầu tư 880.202 tỷ đồng.
Bên cạnh đó là 156 dự án có diện tích 13.011,9 ha và tổng mức đầu tư 226.191,7 tỷ đồng được đề xuất xử lý ở cấp Quốc hội, Chính phủ.
166 dự án khác được xác định là báo cáo trùng lặp. Với các dự án này, Bộ Tài chính đang đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép xóa khỏi Hệ thống 751.
Gỡ vướng từ từng dự án
Đưa ra phương hướng giải quyết cho các dự án trong thời gian tới, báo cáo từ Bộ Tài chính cho biết, với 3.241 dự án đã xử lý, các cơ quan phải báo cáo kết quả tới cấp có thẩm quyền và Bộ Tài chính. Với 1.392 dự án đã có cơ chế tháo gỡ, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện phần việc thuộc thẩm quyền để dự án sớm được triển khai, đưa vào hoạt động.
Phần việc phức tạp hơn tập trung ở 156 dự án được đề xuất xử lý ở cấp Quốc hội, Chính phủ. Bộ Tài chính đã gửi 4 văn bản tới các cơ quan chuyên ngành để rà soát, xác minh, hướng dẫn hoặc đề xuất giải pháp, cơ chế, chính sách xử lý theo yêu cầu tại Công điện số 58/CĐ-TTg.
Theo Bộ Tài chính, nhóm 156 dự án có nhiều trường hợp vướng mắc pháp lý phức tạp, kéo dài qua nhiều thời kỳ pháp luật hoặc có tính chất riêng lẻ, đặc thù theo từng địa phương. Trong quá trình rà soát, một số địa phương đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành để tìm hướng xử lý. Một số địa phương khác cập nhật thông tin còn sơ sài, chưa làm rõ căn cứ pháp lý, nguyên nhân vướng mắc, thẩm quyền và phương án giải quyết.
Để xử lý nhóm dự án này, theo Bộ Tài chính, UBND các tỉnh, thành phố và các bộ, cơ quan được giao làm chủ đầu tư hoặc quản lý dự án phải cung cấp đầy đủ, chính xác tình hình thực hiện, nội dung đang vướng và căn cứ pháp lý liên quan. Các cơ quan cũng phải xác định cụ thể giải pháp, trong đó nêu rõ quy định pháp luật hoặc chính sách cần sửa đổi, bổ sung để tháo gỡ.
Ngoài ra, các bộ quản lý ngành có trách nhiệm phối hợp với địa phương và cơ quan liên quan để rà soát từng dự án.
Với những dự án đã có căn cứ pháp lý để giải quyết, các bộ quản lý ngành phải hướng dẫn địa phương, chủ dự án thực hiện, đưa dự án vào hoạt động và cập nhật sang nhóm phù hợp trên Hệ thống 751.
Những dự án chưa có cơ sở pháp lý để tiếp tục đầu tư, xây dựng phải được báo cáo Chính phủ, Quốc hội theo thẩm quyền khi cần thiết. Các cơ quan liên quan đồng thời phải nghiên cứu giải pháp, đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật hoặc cơ chế, chính sách đặc thù.
Bộ Tài chính sẽ tiếp tục tổng hợp kết quả, phương án xử lý và báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.
