Gỡ điểm nghẽn, khơi dòng tín dụng cho hạ tầng
Hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn đang được triển khai, kéo theo nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng cao. Trong đó, tín dụng ngân hàng được kỳ vọng là một dòng vốn quan trọng. Tuy nhiên, để vốn ngân hàng đi đúng địa chỉ và phát huy hiệu quả, cần tháo gỡ điểm nghẽn về kỳ hạn, phương án tài chính, pháp lý và cơ chế chia sẻ rủi ro.

Thời gian qua, các kênh tín dụng trung và dài hạn phục vụ đầu tư phát triển tiếp tục được mở rộng. Ảnh: TTXVN
Tín dụng ngân hàng - kênh dẫn vốn quan trọng cho các dự án
Phát triển kết cấu hạ tầng đang là một trong những trọng tâm của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Để hình thành hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, bên cạnh nguồn vốn ngân sách nhà nước, cần huy động thêm nguồn lực từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và hệ thống tín dụng.
Đặc biệt, các lĩnh vực như giao thông, năng lượng, logistics, khu công nghiệp, hạ tầng đô thị... thường đòi hỏi lượng vốn đầu tư rất lớn, thời gian triển khai kéo dài và chu kỳ thu hồi vốn dài. Đây cũng là những lĩnh vực mà nguồn tín dụng trung và dài hạn có thể đóng vai trò quan trọng.
Năm 2026, nhiều dự án giao thông quy mô lớn tiếp tục được triển khai, trong đó có các dự án đường cao tốc, đường vành đai, đường sắt, hành lang đường thủy và logistics. Quy mô và tốc độ triển khai các dự án cho thấy nhu cầu về nguồn vốn dài hạn sẽ tiếp tục gia tăng. Trong cơ cấu nguồn lực đó, tín dụng ngân hàng có thể trở thành một kênh bổ sung quan trọng bên cạnh vốn khác.
Áp lực huy động vốn càng rõ nét khi khu vực tư nhân đang tham gia ngày càng sâu vào phát triển hạ tầng. Theo thống kê, tổng nhu cầu vốn huy động cho 18 dự án hạ tầng lớn do các tập đoàn tư nhân hàng đầu như Sun Group và Masterise triển khai lên tới hơn 752.000 tỷ đồng, tập trung giải ngân mạnh trong giai đoạn 2026-2028.
Tại Hà Nội, danh mục 6 dự án lớn vừa được gia hạn thủ tục có tổng mức đầu tư dự kiến gần 2 triệu tỷ đồng. Những con số này cho thấy dư địa để hệ thống tài chính, trong đó có ngân hàng tham gia cung ứng vốn cho hạ tầng là rất lớn.
Cam kết tín dụng tăng, nhưng giải ngân còn khiêm tốn
Thời gian qua, các kênh tín dụng trung và dài hạn phục vụ đầu tư phát triển tiếp tục được mở rộng. Cuối tháng 7/2026, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã ký thỏa thuận tài trợ vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước cho danh mục các dự án thuộc lĩnh vực hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng khu công nghiệp, logistics... qua đó, mở thêm một kênh tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án ưu tiên.
Tại Hà Nội, đến ngày 30/6/2026, có 13 tổ chức tín dụng đã tiếp cận và tham gia tài trợ 29 chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố, với tổng số tiền cam kết cấp tín dụng trên 63.000 tỷ đồng. Dư nợ đạt gần 15.000 tỷ đồng, trong đó, vốn trung và dài hạn chiếm trên 65%.
Bà Nguyễn Thị Hòa - Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 - cho biết các tổ chức tín dụng đã chủ động tiếp cận và tham gia tài trợ vốn cho các chương trình, dự án lớn của Thành phố. Tuy nhiên, quy mô cam kết và giải ngân thực tế vẫn còn khiêm tốn.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Dân (NCB) và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết Thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối Sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Theo thỏa thuận, NCB sẽ là ngân hàng đầu mối thu xếp vốn, với vai trò dẫn dắt công tác huy động vốn, cung cấp các giải pháp tài chính toàn diện cho Chủ đầu tư công ty Bắc Hà Nội và các nhà thầu trong quá trình triển khai Dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Tổng hạn mức tín dụng tối thiểu mà NCB dự kiến triển khai từ nay tới hết 2027 lên tới 6.800 tỷ đồng. Ngân hàng cũng đang làm việc cùng các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tín dụng khác để đảm bảo cung cấp đầy đủ và hiệu quả toàn bộ nhu cầu vốn cho dự án (dự kiến 17.000 tỷ đồng).
Một trong những nguyên nhân là tốc độ huy động vốn chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng. Trong khi đó, các ngân hàng cũng phải tính toán rủi ro kỳ hạn khi sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để tài trợ cho những dự án có thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài. Đây là bài toán không dễ giải quyết bởi đặc thù của các dự án hạ tầng là nhu cầu vốn thường tập trung lớn trong giai đoạn đầu tư, trong khi dòng tiền từ khai thác công trình chỉ hình thành sau khi dự án hoàn thành và đi vào vận hành.
Bên cạnh đó, việc tiếp cận và giải ngân tín dụng còn gặp khó khăn từ phía doanh nghiệp và dự án. Một số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa có dữ liệu tài chính, dòng tiền được chuẩn hóa; tài sản bảo đảm không đủ hoặc giá trị chưa đáp ứng yêu cầu. Một số phương án kinh doanh cũng chưa thể hiện rõ nguồn thu, dòng tiền và khả năng trả nợ.
Đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn, những vấn đề này càng trở nên phức tạp do liên quan đến nhiều thủ tục và chủ thể. Khi hồ sơ pháp lý chưa hoàn tất, ngân hàng dù có nguồn vốn cũng khó giải ngân.
Do đó, bài toán khơi thông tín dụng cho hạ tầng không đơn thuần là tăng thêm nguồn vốn cho vay. Điều quan trọng hơn là phải tạo được một hệ thống dự án có tính khả thi, pháp lý rõ ràng, phương án tài chính minh bạch và khả năng kiểm soát rủi ro.
Cần cơ chế phù hợp và nguồn dữ liệu minh bạch
Muốn khơi thông dòng vốn ngân hàng cho hạ tầng, theo các chuyên gia, trước hết, cần tạo dựng môi trường pháp lý và phương án tài chính đủ rõ ràng để tổ chức tín dụng có thể đánh giá, lượng hóa rủi ro.
Một dự án muốn tiếp cận nguồn vốn lớn, dài hạn cần chứng minh được nhiều yếu tố: hồ sơ pháp lý đầy đủ; tiến độ giải phóng mặt bằng và triển khai khả thi; tổng mức đầu tư được tính toán sát thực tế; năng lực tài chính của chủ đầu tư; phương án huy động vốn; nguồn thu và khả năng trả nợ.
Theo Dự thảo Thông tư Quy định về điều kiện, hồ sơ, thủ tục đề nghị chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô, mức cấp tín dụng đối với một khách hàng không vượt quá 38% vốn tự có của ngân hàng; tổng mức cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không vượt quá 52% vốn tự có. Việc cấp tín dụng vượt giới hạn chỉ được xem xét đối với các dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Đặc biệt, đối với các dự án PPP, cơ chế chia sẻ rủi ro và phương án xử lý những biến động lớn trong quá trình thực hiện có ý nghĩa quan trọng. Khi các yếu tố này chưa được xác định rõ, ngân hàng sẽ khó lượng hóa rủi ro để quyết định mức và thời hạn tín dụng.
Ở chiều ngược lại, chủ đầu tư cũng cần nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án. Nguồn vốn tín dụng khó có thể bù đắp cho một dự án thiếu tính khả thi, phương án tài chính chưa rõ ràng hoặc tiến độ triển khai còn nhiều bất định.
Một giải pháp được Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 đề xuất là xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin thường xuyên về danh mục dự án, tiến độ thực hiện, nhu cầu vốn theo từng giai đoạn, cơ cấu nguồn vốn và khả năng hoàn vốn. Khi có được thông tin đầy đủ và kịp thời, các tổ chức tín dụng có thể chủ động tiếp cận, nghiên cứu phương án tài trợ từ sớm, thay vì chỉ tham gia khi dự án đã bước vào giai đoạn cần giải ngân.
Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, với doanh nghiệp, để tiếp cận tín dụng, yêu cầu đặt ra là nâng cao năng lực tài chính, quản trị, minh bạch thông tin, tăng vốn chủ sở hữu và quản lý dòng tiền. Đối với các dự án lớn, hồ sơ pháp lý, quy hoạch, thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, tiến độ và phương án tài chính là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cấp tín dụng.
Có thể thấy, việc nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng không chỉ phụ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp, mà còn đòi hỏi các dự án hạ tầng phải được chuẩn bị đầy đủ về pháp lý, tài chính và tiến độ triển khai. Khi tín dụng ngân hàng được đặt trong một cấu trúc tài chính dài hạn, minh bạch và kiểm soát tốt rủi ro, nguồn vốn này sẽ góp phần hoàn thành các công trình, tạo thêm dư địa để hạ tầng trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng, mở rộng không gian phát triển và tăng cường liên kết kinh tế trong giai đoạn mới./.
Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/go-diem-nghen-khoi-dong-tin-dung-cho-ha-tang
