Gỡ điểm nghẽn thể chế để nuôi biển công nghiệp bứt phá

Gỡ xung đột pháp lý trong giao khu vực biển, cấp 'sổ xanh' xác lập quyền tài sản, xây dựng cơ chế ưu đãi vượt trội sẽ thúc đẩy nuôi biển công nghiệp phát triển quy mô lớn

Kiến nghị cấp “sổ xanh” để xác lập quyền tài sản

Tại hội thảo về xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù cho phát triển kinh tế biển bền vững, ông Bùi Tuấn Anh, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho biết, vướng mắc lớn nhất hiện nay là sự chồng chéo giữa Luật Đầu tư và các quy định chuyên ngành về giao khu vực biển.

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng rất lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển. Ảnh: Duy Học/Báo Nông nghiệp Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng rất lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển. Ảnh: Duy Học/Báo Nông nghiệp Việt Nam

Theo quy định hiện hành, dự án có đề nghị giao khu vực biển phải được chấp thuận chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, để được chấp thuận chủ trương đầu tư, doanh nghiệp lại phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng biển; trong khi để được giao khu vực biển, hồ sơ lại yêu cầu phải có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư. “Đây là vòng luẩn quẩn rất lớn. Do không được chấp thuận chủ trương đầu tư nên toàn bộ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp và hợp tác xã gần như đứng yên tại chỗ”, ông Bùi Tuấn Anh cho biết.

Thực tế cho thấy nhiều dự án nuôi biển đã đầu tư hàng tỷ đồng, thậm chí hàng triệu USD, nhưng vẫn chưa thể triển khai do chưa hoàn tất thủ tục giao khu vực biển và chấp thuận chủ trương đầu tư. Bên cạnh đó, nhiều địa phương chưa có quy hoạch không gian biển chi tiết. Theo Luật Thủy sản, dự án nuôi trồng thủy sản phải nằm trong vùng được quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, do thiếu quy hoạch cụ thể nên nhiều địa phương không thể xác định và giao khu vực biển cho người nuôi.

Để tháo gỡ điểm nghẽn này, Hiệp hội đề xuất xây dựng cơ chế cấp “sổ xanh” xác nhận quyền sử dụng khu vực biển lâu dài, tương tự “sổ đỏ” đối với đất đai. Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng biển, tổ chức và cá nhân sẽ có cơ sở pháp lý để thế chấp, chuyển nhượng, góp vốn hoặc huy động vốn đầu tư. Đồng thời, pháp luật cần quy định rõ các quyền liên quan như thế chấp, thừa kế, chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng khu vực biển và tài sản hình thành trên biển. “Điều cốt lõi là khi người dân và doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng biển thì quyền tài sản phải được pháp luật bảo đảm đầy đủ”, ông Bùi Tuấn Anh nhấn mạnh.

Liên quan đến cơ chế “sổ xanh”, Hiệp hội cũng kiến nghị giảm mức phí sử dụng biển theo Nghị định 11/2021/NĐ-CP để tạo điều kiện cho hợp tác xã và ngư dân đầu tư trang trại nuôi biển công nghiệp.

Một vấn đề khác được nhiều doanh nghiệp quan tâm là ngành nuôi biển công nghiệp hiện thiếu hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật thống nhất. Theo các doanh nghiệp, nếu không có tiêu chuẩn, cơ quan quản lý sẽ thiếu căn cứ để giao biển, xác định giá trị tài sản và đánh giá điều kiện duy trì tài sản trong quá trình sản xuất. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được đề nghị sớm ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam cho nuôi biển công nghiệp trong giai đoạn 2026-2027.

Sau khi có tiêu chuẩn, bước tiếp theo là xây dựng cơ chế đăng kiểm cơ sở và phương tiện nuôi biển. Việc đăng kiểm không chỉ giúp quản lý chất lượng lồng bè, trang thiết bị mà còn là điều kiện để triển khai bảo hiểm nuôi biển. Các doanh nghiệp cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế bảo hiểm rủi ro bão theo hướng khi có công bố thiên tai chính thức thì đối tượng bảo hiểm được bồi thường theo quy định, giảm bớt thủ tục xác định thiệt hại cho từng cơ sở nuôi.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cho biết nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm đến nuôi biển công nghệ cao và hạ tầng lấn biển nhưng vẫn lo ngại về tính ổn định và chồng lấn của pháp lý. “Một chính sách ưu đãi hấp dẫn nhưng phụ thuộc vào cơ chế xin - cho, phải đi nhiều cửa sẽ làm giảm động lực đầu tư của doanh nghiệp”, ông Đậu Anh Tuấn nhận định và cho rằng, ưu đãi phải đi kèm với cắt giảm thủ tục hành chính, tăng cường phối hợp liên ngành và xác lập rõ quyền tài sản trên biển.

Bốn nhóm chính sách tạo động lực phát triển kinh tế biển

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 182/NQ-CP thông qua đề xuất xây dựng 4 nhóm chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Bốn nhóm chính sách gồm: Hoàn thiện quản lý, sử dụng không gian biển; quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng biển; kiểm soát ô nhiễm và bảo tồn hệ sinh thái biển; cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù để thúc đẩy kinh tế biển và hải đảo. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các chính sách này hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành hệ sinh thái quản trị biển hiện đại theo hướng quản lý tổng hợp, phù hợp với xu thế quốc tế. Trong đó, chính sách về không gian biển là “nền móng”, chính sách về quyền sử dụng biển tạo “luật chơi” minh bạch, chính sách môi trường là “lá chắn xanh”, còn chính sách ưu đãi là “động lực” thúc đẩy kinh tế biển phát triển.

Việt Nam hiện có 21/34 tỉnh, thành phố có biển. Việc thiết kế cơ chế ưu đãi đặc thù được kỳ vọng sẽ tạo động lực phát triển kinh tế cho các địa phương ven biển, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững. Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10/2026. Nếu các rào cản thể chế được tháo gỡ, nuôi biển công nghiệp không chỉ nâng cao giá trị gia tăng cho ngành thủy sản mà còn tạo nền tảng để tích hợp với du lịch biển, điện gió ngoài khơi và các ngành kinh tế biển khác, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong những thập niên tới.

Theo Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, các dự án nuôi biển công nghệ cao đang gặp hàng loạt rào cản về thủ tục giao khu vực biển, chấp thuận chủ trương đầu tư, quy hoạch và hạ tầng. Đây được xem là những điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế biển xanh.

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/go-diem-nghen-the-che-de-nuoi-bien-cong-nghiep-but-pha-464989.html