Gỡ 'điểm nghẽn' về chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số
Chính sách ưu tiên đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm sinh kế, giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, cần giải quyết những vướng mắc về quỹ đất, điều kiện tiếp cận vốn, đối tượng thụ hưởng và cơ chế phối hợp thực hiện.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thành Trung (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai). Ảnh: P. THẮNG
Đây là những vấn đề được đại biểu Quốc hội Nguyễn Thành Trung (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai) đề cập khi góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).
Bảo đảm quỹ đất thực chất, tránh hỗ trợ hình thức
Chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại Điều 15 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được xây dựng theo hướng kế thừa, hệ thống hóa các quy định của Luật Đất đai năm 2024, với 5 nội dung chính: Bảo đảm đất sinh hoạt cộng đồng; Chính sách hỗ trợ đất đai lần đầu (áp dụng đối với cá nhân là người DTTS thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng DTTS và miền núi); Chính sách hỗ trợ để bảo đảm ổn định cuộc sống đối với cá nhân được hỗ trợ đất đai lần đầu nhưng không còn đất hoặc thiếu đất so với hạn mức theo quy định, cùng với quy định về chế độ thực hiện quyền sử dụng có điều kiện.
Đáng chú ý, Dự thảo Luật quy định về quỹ đất và nguồn lực tài chính thực hiện, đặc biệt là diện tích thu hồi từ các công ty nông, lâm nghiệp quản lý kém hiệu quả, giao khoán sai đối tượng.
Đồng thời, Dự thảo Luật đã cụ thể hóa định hướng tại Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 21-NQ/TW "Có chính sách phù hợp để ưu tiên giao đất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thiếu đất sản xuất, gắn với các cơ chế hiệu quả không để người dân chuyển nhượng sau khi được giao đất".
Đặc biệt, Dự thảo Luật đã quy định thu hồi diện tích đất nông, lâm trường đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo phương án sử dụng đất được phê duyệt nhưng không đầu tư, giao khoán không đúng đối tượng để bàn giao về địa phương ưu tiên bố trí đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS tại vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Thành Trung, các quy định trên mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện sự ưu tiên lớn của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào DTTS. Tuy nhiên, để chính sách đi vào cuộc sống, cần tiếp tục tháo gỡ những khó khăn có thể phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện, nhất là khả năng tạo lập quỹ đất và bảo đảm chất lượng đất được giao.
Đại biểu Nguyễn Thành Trung chỉ ra, khoản 4 Điều 15 Dự thảo Luật quy định đất thực hiện chính sách được bố trí từ quỹ đất do cơ quan, tổ chức nhà nước quản lý hoặc đất thu hồi. Trong khi đó, tại nhiều tỉnh miền núi và vùng đồng bào DTTS, quỹ đất sạch do Nhà nước quản lý còn hạn chế bởi điều kiện địa lý, tự nhiên.
Việc thu hồi đất từ các công ty nông, lâm nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn, kéo dài do vướng mắc về ranh giới, tài sản trên đất, tranh chấp hoặc thiếu kinh phí bồi thường. Đáng lo ngại hơn, đất bàn giao về địa phương tại một số nơi có thể là đất cằn cỗi, độ dốc cao, xa nguồn nước hoặc khó tiếp cận giao thông. Nếu không đáp ứng điều kiện canh tác và sinh sống, việc bố trí đất khó có thể tạo ra sinh kế ổn định cho người thụ hưởng.
Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra không chỉ là xác định nguồn đất để thực hiện chính sách, mà còn phải bảo đảm đất được giao có khả năng khai thác, sử dụng hiệu quả. Một diện tích đất được bàn giao về địa phương nhưng không thuận lợi cho sản xuất, thiếu nước tưới hoặc khó vận chuyển nông sản sẽ khó giúp người dân cải thiện thu nhập. Khi ấy, mục tiêu hỗ trợ đất đai có nguy cơ chỉ dừng ở việc giải quyết nhu cầu trước mắt, chưa tạo được nền tảng cho phát triển lâu dài.
Đại biểu Nguyễn Thành Trung kiến nghị hoàn thiện cơ chế tạo lập quỹ đất thực chất và quy định rõ hơn trách nhiệm của địa phương trong thực hiện chính sách. Theo đó, Dự thảo Luật cần bổ sung quy định căn cứ nhu cầu, nhiệm vụ và khả năng cân đối, UBND cấp tỉnh cần bố trí một tỷ lệ tối thiểu từ ngân sách địa phương và quỹ đất sạch để dành riêng cho hỗ trợ đất đai đối với đồng bào DTTS. Nguồn đất có thể được hình thành từ đất công, đất thu hồi từ các công ty nông, lâm nghiệp hoặc các dự án bỏ hoang. Cùng với đó, cần bổ sung tiêu chí về chất lượng đất được giao, trong đó đất sản xuất phải bảo đảm điều kiện canh tác, có nguồn nước và khả năng tiếp cận giao thông.
Đây là yêu cầu quan trọng để chuyển trọng tâm từ việc hoàn thành thủ tục giao đất sang bảo đảm hiệu quả sử dụng đất sau hỗ trợ. Việc quy định rõ trách nhiệm tạo lập quỹ đất, đi kèm tiêu chí chất lượng và khả năng sử dụng, cũng góp phần nâng cao tính chủ động của địa phương. Thay vì chờ đợi nguồn đất phát sinh từ quá trình thu hồi, sắp xếp đất đai, địa phương cần có phương án chuẩn bị quỹ đất gắn với nhu cầu thực tế của người dân, bảo đảm chính sách được triển khai có kế hoạch và đúng đối tượng.
Mở rộng cơ hội phát triển, đồng bộ chính sách hỗ trợ
Bên cạnh quỹ đất, đại biểu Nguyễn Thành Trung cũng đề nghị quan tâm đến khả năng tiếp cận nguồn vốn của người được hỗ trợ đất đai. Theo quy định của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), cá nhân DTTS được hỗ trợ đất chỉ được thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng chính sách.

Đại biểu Nguyễn Thành Trung kiến nghị hoàn thiện cơ chế tạo lập quỹ đất thực chất và quy định rõ hơn trách nhiệm của địa phương trong thực hiện chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh: HIÊN TUẤN
Cơ chế này nhằm hạn chế nguy cơ người dân mất đất hoặc đất được hỗ trợ bị thâu tóm. Tuy nhiên, theo đại biểu, mức cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội thường có hạn mức nhỏ, không đủ để đáp ứng nhu cầu vốn nếu hộ gia đình muốn mở rộng trang trại, mua sắm máy móc nông nghiệp quy mô lớn hoặc chuyển đổi mô hình kinh doanh. Vì vậy, việc cấm thế chấp tại các ngân hàng thương mại làm giảm khả năng huy động vốn chính thức của người dân.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cần nghiên cứu cơ chế tín dụng linh hoạt hơn nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu bảo toàn quỹ đất hỗ trợ. Một trong những phương án được đại biểu đề xuất là cho phép người dân thế chấp tài sản gắn liền với đất hoặc thế chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng thương mại nhà nước, hoặc ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước nắm cổ phần khống chế.
Một vấn đề khác cần được làm rõ là tiêu chí xác định đối tượng thụ hưởng. Điều 15 Dự thảo Luật gắn chính sách hỗ trợ đất đai lần đầu với cá nhân là người DTTS thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào DTTS và miền núi. Tuy nhiên, chuẩn nghèo, cận nghèo được rà soát, công nhận hằng năm.
Theo đại biểu Nguyễn Thành Trung, sự biến động của tiêu chí hộ nghèo, hộ cận nghèo có thể phát sinh khoảng trống pháp lý trong thực hiện chính sách.
“Một hộ gia đình sau khi được giao đất sản xuất, nỗ lực phát triển kinh tế và thoát nghèo có thể đặt ra câu hỏi về việc tiếp tục được hưởng các ưu đãi, miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai. Bên cạnh đó, công tác bình xét hộ nghèo, hộ cận nghèo tại một số địa phương còn có nguy cơ thiếu khách quan, dẫn đến bỏ sót người thực sự cần đất hoặc phát sinh tiêu cực trong xét duyệt đối tượng” – đại biểu chỉ rõ.
Để khắc phục tình trạng này, đại biểu đề xuất bổ sung nhóm hộ mới thoát nghèo trong vòng 36 tháng, sinh sống tại địa bàn đặc biệt khó khăn và thực sự không có hoặc thiếu đất sản xuất, vào đối tượng được xem xét hỗ trợ đất đai. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm người dân có thêm thời gian củng cố sinh kế, tránh tình trạng vừa thoát nghèo đã mất đi điểm tựa để tiếp tục phát triển kinh tế.
Đại biểu Nguyễn Thành Trung cũng lưu ý yêu cầu đồng bộ chính sách đất đai với các chương trình mục tiêu quốc gia. Hiện nay, các chương trình về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 cũng triển khai các nội dung hỗ trợ đất ở, đất sản xuất.
Việc Điều 15 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) giao Chính phủ quy định chi tiết chính sách hỗ trợ cho đối tượng không còn đất hoặc thiếu đất (khoản 3) nếu không được tích hợp đồng bộ với các chương trình mục tiêu quốc gia sẽ gây ra sự lúng túng cho chính quyền địa phương trong việc xác định nguồn vốn, quy trình lập danh sách và triển khai dự án hỗ trợ - đại biểu băn khoăn.
Theo đại biểu, cần hoàn thiện các nghị định hướng dẫn thi hành theo hướng tích hợp quy trình, thủ tục giao đất, hỗ trợ kinh phí bồi thường, đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Điều 15 với cơ chế giải ngân của các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030.
Đồng thời, thủ tục hành chính cần được đơn giản hóa tối đa. Đối với trường hợp được miễn toàn bộ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất, cơ quan quản lý đất đai cần chủ động xác định đối tượng theo hồ sơ quản lý, thay vì yêu cầu người dân tiếp tục thực hiện thủ tục đề nghị miễn, giảm.
