Gỡ 'nút thắt' đất nông, lâm trường (kỳ 2)

Thu hồi và bàn giao đất mới chỉ là một khâu trong quá trình sắp xếp, xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường. Quỹ đất chỉ phát huy giá trị khi từng diện tích có ranh giới rõ, chủ thể chịu trách nhiệm cụ thể, người dân có động lực đầu tư và mô hình liên kết tạo được sinh kế phù hợp. Đây cũng là yêu cầu đặt ra sau nhiều kết luận thanh tra, kiểm toán và kế hoạch xử lý đất đai đang được triển khai.

Kỳ 2: Để đất sinh giá trị

Từ phát triển kinh tế rừng, diện mạo nhiều vùng quê phía Bắc tỉnh Thái Nguyên ngày càng khởi sắc, đời sống người dân từng bước được nâng lên.

Từ phát triển kinh tế rừng, diện mạo nhiều vùng quê phía Bắc tỉnh Thái Nguyên ngày càng khởi sắc, đời sống người dân từng bước được nâng lên.

Mỗi doanh nghiệp một bài toán

Tại Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn, phương án sử dụng đất được phê duyệt năm 2019 xác định diện tích được giao và sử dụng là 14.577ha. Trong đó, 13.798ha đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 281ha đã được thu hồi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; 135,77ha doanh nghiệp không còn nhu cầu, dự kiến bàn giao về địa phương. Phần còn lại tiếp tục được rà soát, giải quyết tranh chấp và hoàn thiện thủ tục cấp giấy.

Quỹ đất lớn vừa là tiềm năng, vừa đặt ra trách nhiệm quản lý. Theo số liệu sản xuất của doanh nghiệp, năm 2025, hồ sơ thiết kế khai thác gỗ rừng trồng được phê duyệt trên 25.000m3, đạt 111% kế hoạch; đơn vị sản xuất, tiêu thụ hơn 1,3 triệu cây giống và thực hiện dịch vụ tư vấn, thiết kế trồng rừng hơn 412ha.

Tổng doanh thu và thu nhập đạt gần 8,5 tỷ đồng. Những tháng đầu năm 2026, doanh thu sản xuất, kinh doanh trên 8,4 tỷ đồng; sản lượng cây giống hơn 1,8 triệu cây; số nộp ngân sách trên 1 tỷ đồng.

Những kết quả này cho thấy đất rừng có thể tạo giá trị khi được tổ chức sản xuất và bảo vệ hiệu quả. Tuy nhiên, ngay trong cùng một doanh nghiệp vẫn có diện tích chưa thể tổ chức sản xuất ổn định. Tại xã Nà Phặc, hơn 288ha còn vướng giữa hồ sơ của doanh nghiệp và quá trình sử dụng của 177 hộ dân.

Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Đại Từ có tổng diện tích 1.279ha được phê duyệt theo phương án sử dụng đất năm 2018. Theo phương án điều chỉnh đang trình cấp có thẩm quyền, toàn bộ diện tích này dự kiến được bàn giao nguyên trạng về địa phương. Trong khi đó, Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên dự kiến giữ lại 4.165ha, trong đó 3.665ha đã được cấp giấy chứng nhận, phần còn lại đang hoàn thiện hồ sơ.

Ở Vinatea Thái Nguyên, doanh nghiệp tiếp tục rà soát diện tích đề nghị giữ lại. Kết quả rà soát trước đây xác định 180ha, nhưng báo cáo ngày 29/9/2025 nêu 223,3ha, tăng 43,3ha. Phần tăng thêm đang chồng lấn với diện tích tỉnh đã thu hồi, giao về địa phương theo quyết định năm 2022 nên phải tiếp tục rà soát.

Công ty CP chè Quân Chu đã được thuê, cấp giấy chứng nhận 43ha và dự kiến bàn giao 2,4ha không sử dụng. Công ty TNHH May Bắc Sơn còn 3ha đã được cho thuê theo dự án đầu tư.

Đối với hai doanh nghiệp đã giải thể là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Chè Phú Lương và Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Võ Nhai, toàn bộ 2.322ha đã có quyết định thu hồi, bàn giao về địa phương. Các phương án sử dụng đất đang được lập để giao hoặc cho thuê theo quy định.

Từ giữ lại, bàn giao một phần đến bàn giao toàn bộ, mỗi doanh nghiệp là một hồ sơ riêng. Vì vậy, không thể áp dụng một phương án xử lý đồng loạt.

Liên kết với người dân, nhưng phải tính hiệu quả

Việc phân định đất không chỉ dừng ở các công ty. Tỉnh còn phải rà soát đất của 6 vườn quốc gia, khu bảo tồn và ban quản lý rừng, với tổng diện tích được giao theo quyết định 78.487ha. Sau rà soát, các đơn vị đề nghị giữ lại 63.238ha, dự kiến giao về địa phương 2.452ha; mới có 73ha được thu hồi, bàn giao cho UBND cấp xã, còn 2.379ha tiếp tục làm thủ tục.

Người dân xã Bạch Thông chăm sóc rừng bạch đàn trồng trên diện tích đất lâm nghiệp liên kết với Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn.

Người dân xã Bạch Thông chăm sóc rừng bạch đàn trồng trên diện tích đất lâm nghiệp liên kết với Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn.

Riêng Vườn Quốc gia Tam Đảo, quyết định điều chỉnh ranh giới ngày 3/4/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định diện tích giao về địa phương quản lý tại địa phận Thái Nguyên là 1.711ha. Với đất rừng, điều chỉnh ranh giới kéo theo trách nhiệm quản lý loại rừng, bảo vệ tài nguyên, phòng cháy, chữa cháy và sinh kế của người dân vùng đệm.

Tính đến ngày 31/12/2025, diện tích rừng đã giao, cho thuê là 269.454/495.638ha đất có rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất, đạt 54,37%. Còn 226.184ha chưa được giao, chưa được cho thuê. Con số này không đồng nghĩa toàn bộ diện tích đang bị bỏ trống; nhiều nơi vẫn có rừng, có người quản lý hoặc sử dụng trên thực tế. Vấn đề là quan hệ pháp lý và trách nhiệm chưa được xác lập đồng bộ.

Liên kết với người dân là một cách đưa đất rừng vào sản xuất và tăng lực lượng bảo vệ rừng. Tại xã Bạch Thông, gia đình ông Đinh Văn Thường nhận hợp đồng trồng rừng trên hơn 5ha đất của Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn và tiếp tục ký sau các chu kỳ khai thác. Ở Ngân Sơn, hơn 900ha đất của doanh nghiệp được ký hợp đồng với hộ dân để trồng rừng và các cây có thế mạnh như hồi, lê, dẻ, thông.

Tuy nhiên, hiệu quả không đồng đều. Bà Lý Thị Điền, thôn Đức Vân, xã Ngân Sơn, tham gia hợp đồng trồng thông trên hơn 1ha. Sau khoảng 18 năm, rừng được khai thác từ cuối năm 2025. Trừ chi phí và phân chia lợi ích, gia đình nhận khoảng 6 triệu đồng. Khoản thu sau gần hai thập kỷ đặt ra câu hỏi về giống cây, chu kỳ sản xuất, chi phí, giá bán và tỷ lệ phân chia trong mô hình liên kết.

Bà Bàn Thị Ngân, cùng thôn Đức Vân, hợp đồng quản lý, sử dụng hơn 5ha đất lâm nghiệp theo tỷ lệ hộ dân hưởng 70%, doanh nghiệp hưởng 30% giá trị sản phẩm. Nhận thấy cây thông có chu kỳ dài, hiệu quả chưa cao, gia đình chuyển sang trồng dẻ và hồng. Sau khoảng 4 năm, khoảng 2ha dẻ đã cho quả, nhưng chi phí giống, phân bón và nhân công vẫn lớn. Việc chuyển cây trồng giúp rút ngắn thời gian tạo thu nhập, song hộ dân vẫn phải tự gánh phần đáng kể rủi ro đầu tư.

Tại Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Đại Từ, phần lớn đất đã giao khoán cho hộ dân; công ty tự quản lý một phần rừng phòng hộ và rừng tự nhiên sản xuất.

Doanh nghiệp dự kiến hưởng khoảng 30% giá trị, nhưng thực tế hộ dân thường nộp khoảng 25%; chủ hộ hưởng từ 65% đến 70%. Sau nhiều năm trồng keo, một số khu vực có dấu hiệu suy giảm độ màu mỡ, cây phát triển không đều và dễ đổ gãy khi gặp thiên tai.

Phóng viên trao đổi với lãnh đạo Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn về hoạt động của đơn vị và việc tháo gỡ những vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất.

Phóng viên trao đổi với lãnh đạo Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn về hoạt động của đơn vị và việc tháo gỡ những vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất.

Diện tích lớn chưa đồng nghĩa hiệu quả cao. Liên kết cần phù hợp từng vùng, công khai chi phí, rõ trách nhiệm đầu tư, có hỗ trợ kỹ thuật, đầu ra và tỷ lệ phân chia đủ hấp dẫn. Nếu người dân chỉ nhận giá trị nhỏ sau một chu kỳ quá dài, mô hình khó trở thành sinh kế bền vững.

Để mỗi diện tích có một chủ thể rõ ràng

Một yêu cầu quan trọng khác là xử lý dứt điểm trách nhiệm sau các kết luận thanh tra. Kết luận số 406/KL-TTra ngày 15/6/2021 của Thanh tra tỉnh Bắc Kạn trước đây nêu, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn còn hạn chế trong quản lý tài chính, đất rừng và theo dõi diễn biến rừng, dẫn đến đất được giao bị lấn chiếm; yêu cầu doanh nghiệp trả lại hơn 339ha đất rừng và khắc phục các tồn tại.

Đến hết tháng 6-2026, Công ty vẫn tiếp tục thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm toán; phối hợp với xã Ngân Sơn rà soát, đo đạc 14.548m2 đất thuộc Lâm trường Ngân Sơn cũ không sử dụng để hoàn thiện hồ sơ giao địa phương quản lý.

Ông Phùng Văn Hưng, Chủ tịch Công ty, cho biết: Đơn vị đang phối hợp với UBND các xã rà soát, phân loại rừng và xử lý vướng mắc. Với diện tích đã được cấp giấy chứng nhận, việc xử lý cần có sự tham gia của chính quyền và cơ quan chuyên môn, song đây không thể là lý do để kéo dài việc khắc phục mà không có thời hạn cụ thể. Công ty cũng đề nghị xem xét gần 5,9 tỷ đồng kinh phí bảo vệ rừng phòng hộ và rừng tự nhiên sản xuất chưa được cấp.

Kết luận thanh tra chỉ hoàn thành khi diện tích phải bàn giao đã được đo đạc, giao nhận, hồ sơ được cập nhật, trách nhiệm được xử lý và nguy cơ tái diễn được khắc phục. Báo cáo tiến độ cần nêu rõ phần việc đã xong, phần còn tồn tại và thời hạn giải quyết.

Theo Kế hoạch số 221-KH/TU ngày 3/2/2025 của Tỉnh ủy Thái Nguyên thực hiện Kết luận số 103-KL/TW của Bộ Chính trị, các công ty nông, lâm nghiệp phải hoàn thành rà soát đất đai, lập, hoàn chỉnh hoặc điều chỉnh phương án sử dụng đất trong năm 2026. Mốc thời gian đã rõ; vấn đề là tổ chức thực hiện theo cách có thể kiểm tra đến từng khu đất.

Diện tích doanh nghiệp thực sự cần phải được xác định rõ. Đất không còn nhu cầu, sử dụng không hiệu quả hoặc không phù hợp quy hoạch phải lập hồ sơ bàn giao. Đất đã về địa phương cần được phân loại để giao cho người đủ điều kiện, đưa vào quỹ công ích, dành cho hạ tầng, tiếp tục bảo vệ rừng hoặc xử lý vi phạm. Quá trình này phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân nhưng không hợp thức hóa lấn chiếm và các giao dịch trái quy định.

Hồ sơ lịch sử cần đối chiếu với hiện trạng, có sự tham gia của doanh nghiệp, chính quyền, cơ quan chuyên môn và người dân. Những trường hợp khác thời điểm, khác quá trình sử dụng phải được tách riêng.

Sau 3 năm trồng, cây dẻ của người dân thôn Đức Vân, xã Ngân Sơn, đã cho thu hoạch, song chi phí đầu tư cao khiến hiệu quả kinh tế chưa như kỳ vọng.

Sau 3 năm trồng, cây dẻ của người dân thôn Đức Vân, xã Ngân Sơn, đã cho thu hoạch, song chi phí đầu tư cao khiến hiệu quả kinh tế chưa như kỳ vọng.

Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao chuẩn hóa dữ liệu đất lâm nghiệp và đất có nguồn gốc nông, lâm trường; kết nối bản đồ địa chính, hiện trạng rừng, hồ sơ giao đất, giao rừng, giấy chứng nhận và thông tin chủ thể. Mỗi thửa đất, lô rừng, khoảnh rừng phải thể hiện rõ diện tích, ranh giới, loại đất, loại rừng, tình trạng pháp lý và biến động.

Đích cuối cùng là đưa đất vào sử dụng đúng quy hoạch và tạo ra giá trị. Người dân cần quyền sử dụng rõ; doanh nghiệp cần diện tích phù hợp năng lực; địa phương cần hồ sơ đầy đủ.

Khi từng thửa có chủ thể chịu trách nhiệm, từng hợp đồng có cơ chế hưởng lợi hợp lý và từng kết luận được thực hiện đến cùng, đất nông, lâm trường mới trở thành nguồn lực phát triển bền vững.

Nhóm phóng viên Thời sự

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/go-nut-that-dat-nong-lam-truong-ky-2