Gỡ 'nút thắt' định giá tài sản trí tuệ: Khi doanh nghiệp giàu nhưng thiếu tiền mặt tiêu
Trong bối cảnh nền kinh tế số, tài sản trí tuệ đang trở thành nguồn lực khổng lồ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc biến nguồn lực này thành vốn vay ngân hàng vẫn đang đối mặt với 'bức tường lửa' mang tên định giá và thanh khoản cũng như rủi ro pháp lý kèm theo.

Quảng cảnh buổi họp.
Động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế
Theo báo cáo Điểm nhấn toàn cầu về đầu tư tài sản vô hình của Cơ quan Sở hữu Trí tuệ thế giới, trong giai đoạn 2008-2024, đầu tư tài sản vô hình tăng trưởng khoảng 4,1%/năm, tức là tăng nhanh gấp khoảng 3,7 lần so với tài sản hữu hình (tăng khoảng 1,1%/năm). Từ năm 2008, tỷ lệ đầu tư vào tài sản vô hình vượt tỷ lệ đầu tư vào tài sản hữu hình tính trên quy mô toàn thế giới.
Tài sản vô hình đóng góp giá trị trung bình gấp đôi so với vốn hữu hình. Ở các quốc gia phát triển, tài sản vô hình chiếm tới 80% tổng tài sản nói chung. Riêng đối với các doanh nghiệp trong nhóm S&P 500 của Mỹ thì tài sản vô hình chiếm khoảng 90% giá trị thị trường.
Về hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cứ mỗi phút có khoảng 40 đơn xin bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được nộp ở trên thế giới. Kể từ năm 2018 đến nay, mỗi năm có khoảng hơn 20 triệu đơn được nộp. Năm 2023, con số này là khoảng 23 triệu đơn và năm 2025 là gần 26 triệu đơn. Ở Việt Nam, riêng năm 2025 Cục Sở hữu trí tuệ Bộ Khoa học và Công nghệ đã cấp khoảng 80.000 văn bằng bảo hộ cho các hình thức bảo hộ.
1/3 số đơn sáng chế được nộp mỗi năm liên quan đến công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, máy tính lượng tử, an ninh mạng, IoT. Dòng vốn chảy vào phần mềm và dữ liệu tăng rất nhanh, không chỉ ở nước phát triển mà còn tăng mạnh ở các nước có thu nhập trung bình như Việt Nam.
Về tài chính dựa trên quyền sở hữu trí tuệ, tài chính vô hình hiện nay ước tính khoảng 80.000 tỷ USD. Có thể khẳng định tài chính dựa trên quyền sự trí tuệ trở thành chìa khóa quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nghịch lý người giàu không có tiền mặt
Tại buổi họp bàn trao đổi về cơ chế và thực tiễn dùng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay - Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị, đề xuất do Cục Sở hữu trí tuệ và Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổ chức chiều 21/1, một thực tế trớ trêu đã được ông Nguyễn Hoàng Giang - Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ chỉ ra là: Nhiều doanh nghiệp công nghệ sở hữu bằng sáng chế trị giá hàng triệu USD, nhưng lại lâm vào cảnh thiếu vốn lưu động sản xuất. Cục Sở hữu trí tuệ ví von đây là những "người giàu mà không có tiền mặt".
Trong khi đó, ngân hàng thì thừa vốn và muốn tìm kiếm động lực tăng trưởng mới, nhưng lại chưa sẵn sàng chấp nhận rủi ro để cho vay dựa trên tài sản vô hình. Mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ luật Dân sự đều cho phép thế chấp quyền tài sản, nhưng trên thực tế, hoạt động này gần như đang trong trạng thái "đóng băng" hoặc chỉ diễn ra rất hạn chế.
Nguyên nhân của tình trạng này đến từ 3 "điểm nghẽn" cốt tử. Điểm nghẽn thứ nhất là "Ma trận" định giá. Đây được coi là rào cản lớn nhất. Tài sản trí tuệ là tài sản vô hình, giá trị của nó biến động mạnh theo thị trường và công nghệ, khiến việc xác định giá trị thực trở nên vô cùng khó khăn.
Việt Nam hiện đang thiếu vắng các tổ chức định giá chuyên nghiệp có đủ năng lực, thiếu cơ sở dữ liệu so sánh và quan trọng nhất là thiếu các tiêu chuẩn định giá thống nhất được hệ thống ngân hàng chấp nhận. Hệ quả là các ngân hàng không dám cho vay vì "không biết giá trị thực là bao nhiêu", dẫn đến việc định giá rủi ro trở nên bế tắc.
Điểm nghẽn số 2 là bài toán thanh khoản và xử lý tài sản. Nỗi lo lớn nhất của ngân hàng là khi doanh nghiệp mất khả năng trả nợ, tài sản thế chấp (bằng sáng chế, quyền sở hữu trí tuệ) sẽ bán cho ai? Khác với bất động sản, thị trường mua bán thứ cấp cho quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam gần như chưa được hình thành. Cơ chế xử lý tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ còn rất phức tạp.
Điểm nghẽn số 3 là rủi ro pháp lý và thiếu công cụ phòng vệ. Văn bằng bảo hộ - cơ sở pháp lý của tài sản - hoàn toàn có thể bị hủy bỏ hoặc bị xâm phạm trong quá trình thế chấp, dẫn đến tổn thất kinh tế. Bên cạnh đó, sự thiếu liên thông dữ liệu giữa Cục Sở hữu trí tuệ (nơi đăng ký quyền) và Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (Bộ Tư pháp) khiến việc tra cứu tình trạng tài sản gặp rủi ro.
Hơn nữa, Việt Nam hiện thiếu các công cụ phòng ngừa rủi ro, chưa có các sản phẩm bảo hiểm cho khoản vay thế chấp bằng quyền sở hữu trí tuệ hay các cơ chế bảo lãnh tín dụng đặc thù cho doanh nghiệp công nghệ.
Kinh nghiệm quốc tế: Chia sẻ rủi ro là chìa khóa
Trong khi Việt Nam đang loay hoay, nhiều quốc gia đã biến tài sản trí tuệ thành động lực tăng trưởng nhờ cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và Ngân hàng.
Hàn Quốc sử dụng mô hình định giá và bảo lãnh thông qua Quỹ Bảo lãnh công nghệ Hàn Quốc Kibo và hệ thống Kibo Technology Rating System. Kibo sử dụng AI của chuyên gia để chấm điểm công nghệ của các doanh nghiệp. Nếu điểm cao thì Kibo sẽ cấp bảo lãnh. Ví dụ, một doanh nghiệp khởi nghiệp về vật liệu bán dẫn, không có nhà xưởng nhưng sở hữu 5 bằng sáng chế đã được cơ quan có thẩm quyền cấp. Kibo định giá các bằng sản chế này khoảng 1 tỷ won. Dựa trên các chứng thư của Kibo, Ngân hàng Shinhan giải ngân ngay lập tức với lãi suất ưu đãi mà không yêu cầu thêm các bất động sản và các tài sản thế chấp khác.
Nhật Bản sử dụng Báo cáo đánh giá sở hữu trí tuệ. Cơ quan Sở hữu trí tuệ Nhật Bản sẽ hỗ trợ xây dựng Báo cáo đánh giá giá trị kinh doanh của sáng chế miễn phí, hỗ trợ kinh phí thuê các tổ chức định giá độc lập, giúp ngân hàng nhìn thấy tiềm năng kinh doanh của bằng sáng chế.
Là quốc gia có tốc độ tăng trưởng sở hữu trí tuệ nhanh nhất trên thế giới, chính quyền Trung Quốc đã áp dụng thành công mô hình trợ cấp và liên kết.
Về trợ cấp, chính quyền trợ cấp 50% đến 100% phí định giá tài sản và trợ cấp khoảng 2-3% lãi suất cho các khoản vay có thế chấp là quyền sử dụng trí tuệ.
Điểm nổi bật của Trung Quốc là đã áp dụng thành công mô hình chia sẻ rủi ro 4 bên (gồm Ngân hàng - Chính phủ - Bảo hiểm - Tổ chức định giá) với tỷ lệ thường thấy là 2-4-2-2. Với mô hình này, ngân hàng chỉ phải chi một phần nhỏ tổn thất nếu nợ xấu xảy ra.
Ngoài ra, Trung Quốc xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ các sản phẩm bảo hiểm cho tài sản trí tuệ như là bảo hiểm khoản vay, bảo hiểm thực thi quyền, thành lập các sàn giao dịch tài sản trí tuệ và các quỹ đầu tư dẫn dắt để tạo thanh khoản ở thị trường tài sản thứ cấp cho các tài sản trí tuệ khi cần xử lý nợ.
Để khơi thông dòng vốn cho hàng ngàn doanh nghiệp công nghệ Việt Nam, cần sớm có sự chung tay của 4 nhà: Nhà nước (cơ chế), Nhà băng (vốn), Nhà sáng chế và Nhà tư vấn định giá, nhằm thiết lập các tiêu chuẩn định giá thống nhất và cơ chế bảo hiểm rủi ro phù hợp.












