Gỡ 'rào cản vô hình' để trao quyền cho phụ nữ tham chính
Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nhiều tiến bộ về bình đẳng giới trong khu vực, song những 'rào cản vô hình' và định kiến giới vẫn âm thầm cản bước phụ nữ trên hành trình tham gia và giữ vai trò lãnh đạo trong chính trị. Để hiện thực hóa mục tiêu bình đẳng thực chất, cần nhìn thẳng vào những bất cập còn tồn tại, thúc đẩy những giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ.
Những “bức tường” định kiến
Ngay từ cuộc tổng tuyển cử đầu tiên để bầu cử Quôcốc hội vào năm 1946, quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ Việt Nam đã được khẳng định. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam trong nhiều nhiệm kỳ luôn ở mức cao so với khu vực. Theo số liệu công bố sau cuộc bầu cử năm 2021, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV đạt 30,26%. Tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI sẽ diễn ra vào ngày 15/3/2026, trong số 864 người ứng cử có 392 người là nữ, chiếm 45,37%. Con số này vượt mức trung bình toàn cầu (khoảng 26% theo thống kê của Liên minh Nghị viện Thế giới cùng thời điểm) và đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỷ lệ nữ nghị sĩ tương đối cao ở châu Á.
Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực ấy vẫn còn nhiều khoảng trống đáng suy ngẫm. Tỷ lệ phụ nữ giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp ủy, chính quyền địa phương, hay các Bộ, ngành Trung ương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và mục tiêu đề ra trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030. Ở nhiều địa phương, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy chưa đạt chỉ tiêu 25% theo Nghị quyết của Đảng. Đặc biệt, tỷ lệ nữ giữ vị trí như bí thư tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh còn khiêm tốn. Một trong những nguyên nhân cốt lõi là định kiến giới về vai trò lãnh đạo của phụ nữ. Quan niệm “lãnh đạo là công việc của nam giới” vẫn tồn tại. Trong quá trình quy hoạch, đề bạt cán bộ, phụ nữ đôi khi bị đánh giá khắt khe hơn, phải chứng minh năng lực nhiều hơn nam giới để được nhìn nhận tương đương.
Chia sẻ với truyền thông, đại biểu Quốc hội Nguyễn Trần Phượng Trân cho biết, phụ nữ tham gia chính trị vướng phải ba rào cản lớn. Một là, định kiến về giới, việc quan điểm truyền thống thì phụ nữ được xem là phái yếu, phù hợp với vai trò chăm sóc gia đình hơn việc giữ chức danh lãnh đạo, là hậu phương phía sau của cánh đàn ông. Chính quan điểm đó tạo ra sự nghi ngại về khả năng phụ nữ quyết định, xử lý các công việc áp lực hoặc chưa có sự cứng rắn.
Hai là, phụ nữ luôn phải nỗ lực để thực hiện tốt cả 2 nhiệm vụ: việc nước và việc nhà. Phụ nữ thực hiện chức trách duy trì nòi giống, chăm sóc con cái, người lớn tuổi, thu vén gia đình… Trong khi đó, tính chất công việc lãnh đạo, quản lý đòi hỏi phải dành thời gian nhiều hơn cho cơ quan, đơn vị, trách nhiệm nêu gương phải đi đầu.
Cuối cùng là rào cản tâm lý thiếu tự tin. Vì thế, họ ngại tự ứng cử, đề cử vào các vị trí cao nếu bản thân chưa đủ điều kiện đáp ứng vị trí.
Thực tế cho thấy, nhiều người phụ nữ chia sẻ họ thường bị đặt câu hỏi về khả năng “cân bằng” giữa công việc và gia đình. Gánh nặng kép gia đình - xã hội tiếp tục là rào cản lớn. Theo số liệu từ Vụ Bình đẳng giới (Bộ LĐ, TB & XH cũ) phụ nữ Việt Nam dành trung bình nhiều thời gian hơn nam giới cho công việc chăm sóc không được trả lương như nội trợ, chăm sóc con cái, người cao tuổi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ dành trung bình 4,5 giờ/ngày cho công việc chăm sóc không lương, 32 giờ/tuần, 207 ngày/năm. Như vậy, mỗi năm mỗi phụ nữ mất gần 7 tháng cho các công việc chăm sóc không lương. Nếu công việc này được trả theo mức lương tối thiểu, phụ nữ có thể kiếm được 2,56 triệu đồng/tháng và hơn 30 triệu đồng mỗi năm.
Khi quỹ thời gian bị chia sẻ quá nhiều bởi trách nhiệm gia đình, phụ nữ khó có điều kiện tham gia các hoạt động xây dựng mạng lưới chính trị, các cuộc họp ngoài giờ hay các chuyến công tác dài ngày, vốn là những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển sự nghiệp chính trị.
Khoảng cách giới trong tiếp cận nguồn lực kinh tế và thông tin cũng tác động không nhỏ. Dù Luật Bình đẳng giới năm 2006 và nhiều văn bản pháp luật khác đã quy định nguyên tắc không phân biệt đối xử, nhưng trên thực tế, phụ nữ ở khu vực nông thôn, miền núi vẫn gặp hạn chế trong tiếp cận đào tạo, bồi dưỡng, công nghệ và các nguồn lực tài chính. Khi cơ hội phát triển chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm quản lý bị hạn chế, phụ nữ khó cạnh tranh ở các vị trí lãnh đạo đòi hỏi trình độ và trải nghiệm đa dạng. Đáng chú ý, nhiều chức vụ quan trọng trong chính trị không có nhiều người phụ nữ tham gia.

Phụ nữ Việt Nam gặp phải một số định kiến khi tham gia vào chính trị.
(Ảnh minh họa - Nguồn: Pngtree)
Sự thiếu vắng phụ nữ trong các mạng lưới này khiến họ khó tiếp cận thông tin chiến lược, cơ hội phát triển, hỗ trợ khi cần thiết. Đây chính là một trong những “rào cản vô hình” khó nhận diện nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng.
Mặt khác, hình ảnh phụ nữ lãnh đạo đôi khi vẫn bị soi chiếu qua lăng kính định kiến. Phụ nữ quyết đoán có thể bị đánh giá là “cứng nhắc”, trong khi nam giới có phong cách tương tự lại được nhìn nhận là “bản lĩnh”. Sự đánh giá kép này tạo áp lực tâm lý lớn, khiến không ít phụ nữ e dè trước những cơ hội thăng tiến. Những rào cản nói trên cho thấy, dù khung pháp lý của Việt Nam về bình đẳng giới tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, bình đẳng trên giấy tờ chưa đồng nghĩa với bình đẳng trong cơ hội và kết quả.
Xóa bỏ rào cản và thúc đẩy bình đẳng
Để xóa bỏ rào cản vô hình và phân biệt đối xử giới trong chính trị, cần một cách tiếp cận toàn diện, kết hợp giữa cải cách thể chế, thay đổi nhận thức và hỗ trợ cụ thể cho phụ nữ.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện và thực thi hiệu quả các mục tiêu về tỷ lệ nữ trong các cơ quan dân cử và bộ máy lãnh đạo. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 đặt mục tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% trở lên. Để đạt được mục tiêu này, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ cần được thực hiện từ sớm, có tính kế thừa và không mang tính “đối phó” trước mỗi kỳ bầu cử. Kinh nghiệm từ một số địa phương cho thấy, nơi nào cấp ủy, chính quyền coi trọng công tác cán bộ nữ, nơi đó tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo cao hơn rõ rệt.
Việc xây dựng nguồn cán bộ nữ kế cận cần gắn với đánh giá năng lực thực chất, tạo cơ hội thử thách ở nhiều vị trí khác nhau để phụ nữ tích lũy kinh nghiệm quản lý. Đồng thời, các tiêu chí đánh giá cán bộ cần bảo đảm công bằng, không lồng ghép những yêu cầu mang tính định kiến về giới.
Lấy ví dụ, cần giảm gánh nặng chăm sóc không được trả lương cho phụ nữ thông qua các chính sách xã hội. Mở rộng hệ thống dịch vụ chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, khuyến khích nam giới chia sẻ trách nhiệm gia đình là những giải pháp có ý nghĩa lâu dài. Khi trách nhiệm gia đình được phân bổ công bằng hơn, phụ nữ sẽ có thêm thời gian và điều kiện để tham gia hoạt động chính trị - xã hội.
Đặc biệt, cần tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực và kỹ năng lãnh đạo cho phụ nữ. Các chương trình bồi dưỡng kỹ năng tranh luận, hoạch định chính sách, quản trị công, cũng như xây dựng mạng lưới cố vấn cho cán bộ nữ có thể giúp họ tự tin hơn khi đảm nhận vị trí lãnh đạo. Vai trò của các tổ chức như Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hỗ trợ, kết nối và bảo vệ quyền lợi phụ nữ cần tiếp tục được phát huy.

Để phá bỏ “trần kính” định kiến giới trong chính trị, cần sự thay đổi đồng bộ từ thể chế đến nhận thức, từ gia đình đến xã hội. (Ảnh minh họa - Nguồn: TTXVN)
Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong thay đổi nhận thức xã hội. Việc tôn vinh các tấm gương nữ lãnh đạo tiêu biểu, phản ánh đa chiều về đóng góp của phụ nữ trong quản lý nhà nước sẽ góp phần xóa bỏ định kiến “lãnh đạo là việc của nam giới”. Đồng thời, cần tránh cách đưa tin mang tính rập khuôn, tập trung quá nhiều vào đời sống gia đình của nữ lãnh đạo mà bỏ qua năng lực và thành tựu chuyên môn của họ. Cuối cùng, cần tăng cường cơ chế giám sát và đánh giá việc thực hiện bình đẳng giới trong chính trị. Các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo không nên chỉ dừng lại ở con số, mà cần được phân tích sâu về chất lượng tham gia.
Việc công khai số liệu, báo cáo định kỳ sẽ tạo áp lực tích cực buộc các cơ quan, địa phương nghiêm túc thực hiện cam kết. Xóa bỏ rào cản vô hình và phân biệt đối xử giới trong chính trị không chỉ là vấn đề quyền lợi của phụ nữ, mà còn là yếu tố quan trọng của phát triển bền vững. Khi phụ nữ được tham gia đầy đủ và bình đẳng vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách, các quyết định sẽ phản ánh đa dạng nhu cầu của xã hội, từ đó nâng cao chất lượng quản trị quốc gia.
Thực tế, đã 80 năm kể từ ngày phụ nữ Việt Nam chính thức có quyền bầu cử, hành trình hướng tới bình đẳng thực chất vẫn đang tiếp diễn. Những thành tựu đạt được là nền tảng quan trọng, nhưng để phá bỏ “trần kính” định kiến giới trong chính trị, cần sự thay đổi đồng bộ từ thể chế đến nhận thức, từ gia đình đến xã hội. Chỉ khi đó, cam kết bình đẳng giới mới thực sự trở thành động lực cho một nền chính trị công bằng, bao trùm và phát triển.











