Gỡ vướng chế độ phụ cấp kiêm nhiệm đối với chức danh lãnh đạo HĐND cấp xã Bài 1: Rõ căn cứ áp dụng để bảo đảm quyền lợi chính đáng

Sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nhiều địa phương đang lúng túng trong áp dụng chế độ phụ cấp kiêm nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo HĐND cấp xã. Vướng mắc cốt lõi không chỉ là xác định mức hưởng, mà còn ở cách hiểu và vận dụng các điều kiện pháp lý về chức danh được kiêm nhiệm, cơ cấu tổ chức và biên chế. Làm rõ căn cứ áp dụng sẽ góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng của cán bộ, thống nhất thực hiện chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách.

Phụ cấp chức vụ đã có căn cứ, phụ cấp kiêm nhiệm còn vướng

Ngày 2/4/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 122/2026/UBTVQH15 về sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến chế độ phụ cấp chức vụ đối với các chức danh lãnh đạo HĐND cấp xã. Nghị quyết quy định mức phụ cấp đối với các chức danh thuộc diện áp dụng, thời điểm thực hiện theo quy định tại văn bản.

Việc quy định cụ thể chế độ phụ cấp chức vụ góp phần làm rõ căn cứ xác định quyền lợi của cán bộ sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Tuy nhiên, phụ cấp chức vụ và phụ cấp kiêm nhiệm là hai chế độ khác nhau, có căn cứ và điều kiện áp dụng riêng. Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, chế độ phụ cấp kiêm nhiệm được đặt ra đối với những trường hợp đáp ứng các điều kiện theo quy định. Hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 78/2005/TT-BNV ngày 10/8/2005 của Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính tiếp tục xác định điều kiện, nguyên tắc và cách tính hưởng phụ cấp đối với cán bộ, công chức, viên chức kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo đứng đầu cơ quan, đơn vị khác.

Thường trực HĐND phường Đức Xuân, Thái Nguyên khảo sát công tác quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn. Ảnh: Đức Kiên

Thường trực HĐND phường Đức Xuân, Thái Nguyên khảo sát công tác quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn. Ảnh: Đức Kiên

Theo khoản 1 Mục II Thông tư số 78/2005/TT-BNV, người được xem xét hưởng phụ cấp phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện: (1) đang giữ chức danh lãnh đạo ở một cơ quan, đơn vị; (2) được cấp có thẩm quyền phê chuẩn kết quả bầu cử hoặc quyết định bổ nhiệm kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo đứng đầu cơ quan, đơn vị khác mà theo cơ cấu tổ chức, chức danh đó được bố trí biên chế chuyên trách người đứng đầu nhưng thực tế hoạt động kiêm nhiệm.

Đáng chú ý, khoản 2 Mục I Thông tư này còn xác định cơ quan, đơn vị được xem xét phải được thành lập đúng thẩm quyền, đúng trình tự pháp luật, có biên chế trả lương và kinh phí hoạt động riêng, có con dấu và tài khoản tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước.

Như vậy, điều kiện hưởng phụ cấp không chỉ nằm ở việc một người đồng thời đảm nhiệm nhiều chức danh lãnh đạo. Việc xem xét còn phải căn cứ vào cơ cấu tổ chức của cơ quan, đơn vị có chức danh được kiêm nhiệm và các điều kiện pháp lý liên quan. Đây là điểm cần được làm rõ khi vận dụng quy định trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương đã thay đổi.

Không đơn thuần nằm ở việc xác định hệ số hưởng

Khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 quy định Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp xã; Trưởng ban, Phó Trưởng ban HĐND cấp tỉnh, cấp xã có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Quy định này xác lập khả năng tổ chức chức danh theo chế độ chuyên trách. Tuy nhiên, cần phân biệt khả năng đó với việc chức danh cụ thể đã được bố trí biên chế chuyên trách trong phương án tổ chức và chỉ tiêu được giao tại từng địa phương.

Điểm b khoản 2 Điều 21 của Luật số 72/2025/QH15 quy định HĐND cấp xã, căn cứ chỉ tiêu biên chế được chính quyền địa phương cấp tỉnh giao, quyết định cụ thể biên chế cán bộ, công chức trong các cơ quan của chính quyền địa phương cấp mình. Bởi vậy, khi xem xét điều kiện hưởng phụ cấp kiêm nhiệm, cần đối chiếu việc giao, phân bổ và quyết định biên chế có liên quan.

Chẳng hạn, nếu phương án tổ chức và hồ sơ có thẩm quyền xác định chức danh Chủ tịch HĐND xã thuộc diện bố trí chuyên trách người đứng đầu, nhưng địa phương thực tế bố trí người đang giữ chức danh lãnh đạo khác kiêm nhiệm, thì có cơ sở để tiếp tục xem xét điều kiện về phụ cấp theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Dẫu vậy, kết luận cuối cùng vẫn phải căn cứ hồ sơ cụ thể và các điều kiện liên quan theo Thông tư số 78/2005/TT-BNV. Ngược lại, nếu hồ sơ tổ chức không xác định chức danh đó được bố trí biên chế chuyên trách người đứng đầu, thì việc người giữ chức danh đang hoạt động kiêm nhiệm chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện hưởng phụ cấp.

Đối với Trưởng ban HĐND cấp xã, vấn đề còn cần được xem xét kỹ hơn. Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, không phải là một cơ quan, đơn vị độc lập có cơ cấu tổ chức và biên chế chuyên trách người đứng đầu như cách diễn đạt trong Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào việc Luật Tổ chức chính quyền địa phương cho phép Trưởng ban hoạt động chuyên trách để chức danh này đương nhiên đáp ứng điều kiện hưởng phụ cấp kiêm nhiệm. Cần làm rõ cơ sở pháp lý, cơ cấu tổ chức và cách áp dụng đối với chức danh này.

Thực tế cho thấy, vướng mắc về phụ cấp kiêm nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo HĐND cấp xã không đơn thuần nằm ở việc xác định hệ số hưởng, mà trước hết ở căn cứ xác định chức danh có thuộc diện được bố trí biên chế chuyên trách người đứng đầu hay không, cùng các điều kiện liên quan theo quy định. Khi quy định về tổ chức chức danh, giao biên chế và chế độ phụ cấp chưa được làm rõ trong mối liên hệ với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc áp dụng có thể thiếu thống nhất. Đây là vấn đề cần được nhận diện đúng trước khi xem xét giải pháp tháo gỡ.

Tân Hòa

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/go-vuong-che-do-phu-cap-kiem-nhiem-doi-voi-chuc-danh-lanh-dao-hdnd-cap-xa-bai-1-ro-can-cu-ap-dung-de-bao-dam-quyen-loi-chinh-dang-10435163.html