Gỡ vướng cơ chế để Tổ công nghệ số cộng đồng phát huy hiệu quả - Bài 1: Khi chuyển đổi số bắt đầu từ câu chuyện mưu sinh
Dù mang sứ mệnh là “cánh tay nối dài” đưa chuyển đổi số về tuyến đầu cơ sở, các Tổ công nghệ số cộng đồng ở các thôn bản vùng khó Quảng Trị vẫn đang trăn trở với “bài toán” kiêm nhiệm và kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, cũng chính những con người bám bản làng này đã biến chuyển đổi số từ một khái niệm xa vời thành công cụ giải quyết những bức thiết sát sườn trong đời sống của người dân.
Lời tòa soạn: Những ngày đầu tháng 10, chúng tôi có dịp cùng Đoàn công tác đến với các vùng khó tại các xã Phong Nha và Bố Trạch, tỉnh Quảng Trị - nơi các Tổ công nghệ số cộng đồng đang ngày đêm bám trụ. Đồng hành cùng chuyến đi là đại diện lãnh đạo Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số tỉnh Quảng Trị, Viện Nghiên cứu Truyền thông và Phát triển, cùng các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật thuộc Bộ Tư pháp.
Mô hình “trăm việc vây quanh” và khoảng trống cơ chế
Toàn tỉnh Quảng Trị hiện ghi nhận 9.542 thành viên tham gia tại 917 tổ công nghệ số cộng đồng (CNSCĐ) trải rộng trên 78 xã, phường, đặc khu. Thế nhưng, đằng sau những con số quy mô ấy là một thực tế cần được nhìn nhận thấu đáo bằng lăng kính thực tiễn.
Đa số các tổ này được thành lập từ giai đoạn 2022 - 2023, với lực lượng nòng cốt là Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn, Chi hội Thanh niên, Hội Phụ nữ, Tổ an ninh trật tự cơ sở và Trưởng ban công tác mặt trận kiêm nhiệm. Giữa những khó khăn về cơ chế, hạ tầng và kinh phí hoạt động, lực lượng kiêm nhiệm này đang gánh trên vai sứ mệnh đưa “làn sóng” chuyển đổi số vào từng nếp nhà. Hành trình thực tế ấy đã mở ra một sự thực, chuyển đổi số không nằm ở những khái niệm vĩ mô xa vời, mà bắt đầu từ chính “bài toán” mưu sinh, sinh kế nhọc nhằn, cho đến khát vọng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên bằng tinh thần thượng tôn pháp luật.
Do tính chất kiêm nhiệm và mang nặng tính phong trào giai đoạn đầu, hoạt động của các tổ phần lớn đến nay mới chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ người dân trong các chiến dịch cài đặt, tích hợp ứng dụng trên các nền tảng số như: VneiD, QuangTri-S… Vai trò và sức mạnh lực lượng của “nòng cốt” trong việc chuyển đổi số tại cơ sở chưa thực sự được khai thác hết để thực sự trở thành cầu nối thông tin hai chiều giữa chính quyền và Nhân dân.
Bản thân những người “đứng mũi chịu sào” tại thôn bản không giấu được những trăn trở, ông Nguyễn Quốc Tuấn, Trưởng thôn kiêm Tổ trưởng Tổ CNSCĐ thôn Ngọn Rào (xã Phong Nha) thẳng thắn bộc bạch về thực trạng vận hành: “Kinh phí hoạt động của tổ gần như là con số 0 tròn trĩnh. Anh em làm việc hoàn toàn bằng tinh thần tự nguyện, lấy sự nhiệt huyết bù cho thù lao. Từ cước mạng cho đến dung lượng điện thoại hay tài liệu tuyên truyền, ai nấy trong tổ trước giờ đều phải tự túc”.
Ở góc độ quản lý hành chính cấp cơ sở, trao đổi với chúng tôi, ông Trần Hương Lâm, Phó Chủ tịch UBND xã Phong Nha cũng đồng quan điểm trên và phân tích sâu hơn về “bài toán” lực lượng và nguồn lực. “Tổ CNSCĐ được thành lập đóng vai trò như “cánh tay nối dài” của chính quyền cấp xã đến với người dân trong vấn đề hỗ trợ chuyển đổi số, từ việc hỗ trợ các dịch vụ công đến bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phòng, chống cháy rừng. Nhưng cái khó lớn nhất hiện nay là kinh phí hoạt động “trắng”. Dù địa phương đã linh hoạt tăng cường lực lượng trẻ như thanh niên, giáo viên có trình độ công nghệ sau khi sáp nhập thôn, nhưng nếu không có nguồn kinh phí hỗ trợ thường xuyên để duy trì sinh hoạt định kỳ hay trang thiết bị tối thiểu, việc giữ chân những hạt nhân nhiệt huyết sẽ là một thách thức lớn”, ông Lâm chia sẻ.
Tương tự, bà Lê Thị Thu Huyền, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Bố Trạch chỉ ra khoảng trống cần khỏa lấp. “Về lâu dài, các tổ này không thể mãi loay hoay với việc cài app (ứng dụng). Chúng tôi kỳ vọng các tổ phải thực sự là cầu nối hỗ trợ xã nắm bắt thông tin, truyền tải chính sách pháp luật về với người dân, đồng thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng để phản hồi lại, nhất là với các đối tượng yếu thế, người có công... những người vốn chịu nhiều thiệt thòi khi tiếp cận thông tin truyền thống”, bà Huyền chia sẻ.
Từ khái niệm vĩ mô đến sinh kế sát sườn của bà con
Chuyển đổi số ở những vùng đặc biệt khó khăn không thể đi bằng những định hướng đao to búa lớn hay áp đặt rập khuôn từ trên xuống. Theo tìm hiểu, tại thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha có khoảng 80% hộ dân sinh sống bằng nghề trồng rừng keo tràm. Với họ, chuyện “chuyển đổi số” ban đầu nghe rất xa vời, thậm chí có phần mơ hồ, cho đến khi nó được cụ thể hóa bằng hạt gạo, quả bắp hay giá trị kinh tế của cây keo tràm trước ngõ. Sự thay đổi nhận thức ấy bắt đầu từ những nhu cầu sát sườn nhất trong đời sống của họ.

Bí thư Chi bộ thôn Ngọn Rào trực tiếp hướng dẫn người dân thực hiện các thủ tục trên Cổng dịch vụ công.
“Ví dụ như trước đây mỗi lần muốn làm giấy tờ chuyển nhượng đất đai hay xin xác nhận hộ nghèo cho con đi học, bà con phải chạy đôn chạy đáo hỏi han khắp nơi, thậm chí không biết mình có thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ nào không do thông tin bị nghẽn ở cơ sở. Nhưng từ khi được tổ CNSCĐ hướng dẫn tra cứu trực tiếp trên Cổng dịch vụ công qua điện thoại thông minh, mọi thông tin về chính sách an sinh đều sáng rõ, minh bạch, giúp bà con không còn cảnh sợ phiền hà hay bị lợi dụng”, chị Hoàng Thị Huyền (SN 1985), tổ viên Tổ CNSCĐ thôn Ngọn Rào chia sẻ về rào cản tâm lý của người dân nơi đây.
Không dừng lại ở thủ tục hành chính, chuyển đổi số còn chạm đến huyết mạch kinh tế của bà con nông dân. “Khi các tổ viên kiên trì tuyên truyền, hướng dẫn bà con cách tiếp cận thông tin về quy hoạch rừng, chủ động tra cứu mức giá thu mua keo tràm hợp pháp tại các nhà máy trên môi trường số thay vì chỉ nghe qua thương lái trung gian, bà con bắt đầu nắm thế chủ động. Họ không còn bị ép giá, biết tính toán thời điểm khai thác hợp lý. Công nghệ hóa ra không xa vời, nó nằm ngay ở hiệu quả kinh tế thu về sau mỗi mùa vụ”, ông Nguyễn Văn Minh, Trưởng Ban Công tác mặt trận kiêm tổ viên Tổ CNSCĐ thôn Ngọn Rào hào hứng kể câu chuyện từng bước thay đổi tư duy sản xuất của người dân.
Khảo sát thực tế tại các “vùng lõm” thông tin như Ngọn Rào, Khe Gát (xã Phong Nha) hay Thanh Hưng, Thanh Bình (xã Bố Trạch) đã phần nào phác họa một thực tiễn đó là người dân không thờ ơ với công nghệ, họ chỉ thờ ơ với những hình thức tuyên truyền khô khan, không sát sườn. Khi việc chuyển đổi số giải quyết trúng sườn những bức bách trong đời sống mưu sinh của họ, tự khắc người dân sẽ đón nhận và xem đó là công cụ sinh kế hữu hiệu.
(Còn tiếp)

