Gỡ vướng từ cơ sở, thúc đẩy chăn nuôi an toàn sinh học

Chi phí đầu vào tăng, đầu ra thiếu ổn định và chăn nuôi nhỏ lẻ còn phổ biến đang là những rào cản đối với việc áp dụng an toàn sinh học. Để các biện pháp phòng dịch phát huy hiệu quả, cần giải quyết khó khăn ngay từ cơ sở, giúp người chăn nuôi duy trì quy trình và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Chi phí đầu tư và bài toán duy trì an toàn sinh học

Việt Nam hiện có tổng đàn gia cầm khoảng 571 triệu con, đứng thứ hai Đông Nam Á; đàn lợn khoảng 30 triệu con, xếp thứ sáu thế giới; đàn bò 6,29 triệu con và đàn trâu 2,07 triệu con. Cả nước có 48.622 trang trại chăn nuôi, cùng 267 cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp hỗn hợp hoàn chỉnh và 440 cơ sở giết mổ tập trung có kiểm soát. Quy mô sản xuất lớn đặt ra yêu cầu ngày càng cao về kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh đó, chăn nuôi an toàn sinh học được xác định là giải pháp quan trọng nhằm ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập, hạn chế lây lan trong đàn vật nuôi, giảm thiểu thiệt hại và hạn chế sự phụ thuộc vào thuốc thú y. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, người chăn nuôi không chỉ cần đầu tư chuồng trại, thiết bị mà còn phải duy trì nghiêm túc các quy trình vệ sinh, khử trùng, kiểm soát nguồn lây trong suốt quá trình sản xuất.

Chăn nuôi an toàn sinh học được xác định là giải pháp quan trọng nhằm ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập, hạn chế lây lan trong đàn vật nuôi. Ảnh: PV

Chăn nuôi an toàn sinh học được xác định là giải pháp quan trọng nhằm ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập, hạn chế lây lan trong đàn vật nuôi. Ảnh: PV

Thực tế tại Hợp tác xã Chăn nuôi dịch vụ Đồng Tâm, xã Kiều Phú cho thấy việc lựa chọn phương thức chăn nuôi phù hợp có thể mang lại lợi ích cả về kinh tế và môi trường. Theo Giám đốc hợp tác xã Chăn nuôi dịch vụ Đồng Tâm Nguyễn Đình Tường, việc sử dụng cám sinh học trong chăn nuôi lợn giúp hạn chế mùi hôi chuồng trại, góp phần giữ môi trường chăn nuôi sạch hơn, lợn khỏe mạnh, giảm chi phí sử dụng thuốc thú y và hóa chất khử trùng, tiêu độc. Nhờ chú trọng chất lượng sản phẩm, trung bình mỗi ngày, chuỗi sản xuất của hợp tác xã cung cấp ra thị trường Hà Nội từ 3 đến 5 con lợn thịt mang nhãn hiệu “Thịt lợn sạch Quốc Oai”. Sản phẩm được tiêu thụ qua các cửa hàng bán lẻ, nhà hàng và bếp ăn trên địa bàn xã cũng như khu vực nội thành. Doanh thu của hợp tác xã hiện đạt khoảng 1,5-1,8 tỷ đồng/tháng.

Mô hình này cho thấy an toàn sinh học có thể gắn với hiệu quả sản xuất khi các biện pháp kỹ thuật được lựa chọn phù hợp và tổ chức thực hiện đồng bộ. Tuy nhiên, không phải cơ sở nào cũng có đủ điều kiện để đầu tư và duy trì quy trình tương tự. Với nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, những yêu cầu về vệ sinh chuồng trại, khử khuẩn, kiểm soát người và phương tiện ra vào có thể không quá phức tạp về kỹ thuật nhưng lại đòi hỏi sự kiên trì, chi phí thường xuyên và ý thức tuân thủ nghiêm túc.

Chi phí đầu vào tiếp tục tạo sức ép lên hoạt động chăn nuôi. Ảnh: PV

Chi phí đầu vào tiếp tục tạo sức ép lên hoạt động chăn nuôi. Ảnh: PV

Đáng chú ý, chi phí đầu vào tiếp tục tạo sức ép lên hoạt động chăn nuôi. Đỗ Quốc Phấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi, Thủy sản và Thú y Hà Nội, cho biết mặc dù giá một số sản phẩm chăn nuôi được cải thiện, chi phí đầu vào vẫn là một trong những thách thức lớn nhất đối với người chăn nuôi. Trong 9 tháng năm 2026, giá thức ăn chăn nuôi nhiều lần điều chỉnh tăng, làm gia tăng chi phí sản xuất và gây áp lực lên hiệu quả kinh tế. Đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, khả năng tiếp cận nguồn đầu vào với giá hợp lý còn hạn chế, trong khi việc chủ động nguồn nguyên liệu gặp nhiều khó khăn. Chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí chăn nuôi nên khi giá đầu vào tăng nhanh hơn giá bán sản phẩm, lợi nhuận bị thu hẹp, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tái đàn và đầu tư công nghệ, thiết bị phục vụ phòng dịch.

PGS.TS Ngô Thị Kim Cúc, Phó Viện trưởng Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam cho rằng, thách thức lớn trong duy trì an toàn sinh học không chỉ nằm ở thiết bị hay kỹ thuật, mà ở nhận thức và hành vi của người chăn nuôi. Chi phí xây dựng chuồng trại, hệ thống sát trùng và vận hành theo chuẩn an toàn sinh học cao hơn khoảng 20% so với phương pháp truyền thống, trong khi giá bán sản phẩm bấp bênh, đầu ra chưa ổn định. Bên cạnh đó, tình trạng chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, khiến việc kiểm soát môi trường, ngăn ngừa dịch bệnh lây lan và áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật gặp nhiều trở ngại...

Gắn phòng dịch với hiệu quả sản xuất

Để an toàn sinh học đi vào thực chất, trước hết cần giúp người chăn nuôi hiểu rõ lợi ích và thực hiện đúng các biện pháp phòng bệnh trong điều kiện sản xuất của mình. Từ vệ sinh chuồng trại, xử lý chất thải, khử trùng dụng cụ đến kiểm soát người và phương tiện ra vào, mỗi khâu đều cần được thực hiện thường xuyên, không làm theo phong trào hoặc chỉ tăng cường khi xuất hiện dịch bệnh.

Cùng với đó, việc sử dụng thuốc thú y, nhất là kháng sinh, cần được quản lý chặt chẽ. Người chăn nuôi phải tuân thủ hướng dẫn chuyên môn, sử dụng thuốc đúng chỉ định, không tùy tiện dùng kháng sinh để phòng bệnh hoặc thay thế cho các biện pháp vệ sinh, an toàn sinh học. Chủ động kiểm soát nguy cơ lây nhiễm sẽ góp phần hạn chế nhu cầu sử dụng thuốc không cần thiết, giảm nguy cơ kháng kháng sinh và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Người chăn nuôi phải tuân thủ hướng dẫn chuyên môn, sử dụng thuốc đúng chỉ định, không tùy tiện dùng kháng sinh để phòng bệnh hoặc thay thế cho các biện pháp vệ sinh, an toàn sinh học. Ảnh: PV

Người chăn nuôi phải tuân thủ hướng dẫn chuyên môn, sử dụng thuốc đúng chỉ định, không tùy tiện dùng kháng sinh để phòng bệnh hoặc thay thế cho các biện pháp vệ sinh, an toàn sinh học. Ảnh: PV

Phó Chủ tịch thường trực Hội Chăn nuôi Việt Nam Nguyễn Ngọc Sơn cho biết, các địa phương cần tiếp tục xây dựng và thực hiện hiệu quả thể chế ngành chăn nuôi; nâng cao hiệu quả quản lý, cải tiến giống vật nuôi; quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung gắn với chính sách hỗ trợ; chủ động nguồn thức ăn chăn nuôi thông qua sản xuất trong nước; tổ chức liên kết gắn với thị trường, bảo đảm an toàn sinh học và an toàn thực phẩm. Cùng với đó, cần ứng dụng khoa học công nghệ và khuyến nông trong sản xuất giống, xây dựng chuồng trại, phòng bệnh; tăng cường chế biến gắn với thị trường, phát triển chăn nuôi theo chuỗi liên kết; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và tích hợp đa giá trị. Hợp tác quốc tế, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý chăn nuôi, phòng, chống dịch bệnh cũng là những giải pháp cần được quan tâm.

Quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung phải đi đôi với tổ chức sản xuất, bảo đảm điều kiện môi trường, kiểm soát dịch bệnh và kết nối tiêu thụ. Ảnh: PV

Quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung phải đi đôi với tổ chức sản xuất, bảo đảm điều kiện môi trường, kiểm soát dịch bệnh và kết nối tiêu thụ. Ảnh: PV

Bên cạnh đó, cần gắn với điều kiện thực tế của từng địa phương, trong đó, quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung phải đi đôi với tổ chức sản xuất, bảo đảm điều kiện môi trường, kiểm soát dịch bệnh và kết nối tiêu thụ. Chính sách hỗ trợ cần hướng đến đúng đối tượng, nhất là những cơ sở có nhu cầu chuyển đổi nhưng còn hạn chế về nguồn lực. Khi an toàn sinh học trở thành một phần trong quản trị trang trại, người chăn nuôi không chỉ giảm nguy cơ thiệt hại do dịch bệnh mà còn có cơ sở nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và phát triển sản xuất bền vững.

Ngọc Quỳnh

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/go-vuong-tu-co-so-thuc-day-chan-nuoi-an-toan-sinh-hoc-1760878.html