Gốm Việt trên hành trình gìn giữ và làm mới truyền thống
Trải qua nhiều biến động lịch sử, nghề gốm vẫn duy trì sức sống và khẳng định vị thế trong đời sống đương đại. Tuy nhiên, trước sức ép của sản xuất công nghiệp, các họa sĩ, nghệ nhân hiện nay phải nỗ lực rất nhiều để bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống cũng như tính độc bản của mỗi tác phẩm.

Nghệ nhân trình diễn làm gốm. Ảnh minh họa: Tường Vi/TTXVN
Hành trình của gốm Việt
Nghề gốm sứ Việt Nam ra đời từ những mảnh đất ven sông được bồi đắp phù sa qua nhiều thế kỷ, với những làng nghề thủ công nổi tiếng như Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng, Thổ Hà… Theo dòng chảy lịch sử, gốm sứ Việt Nam ghi dấu ấn đậm nét qua nhiều triều đại phong kiến. Từ thời Lý - Trần, các trung tâm gốm lớn ra đời, kỹ thuật chế tác và trang trí đạt những bước tiến đáng kể với men ngọc, ngọc lục cánh cam, men nước dưa, men trắng bông bưởi, men hoa nâu, nâu mật mía, nâu cánh gián, nâu bã trầu... Từ khoảng thế kỷ XIV đến XVII, làng Chu Đậu nổi danh với gốm hoa lam, men rạn, theo chân thương nhân vượt biển ra thế giới, trở thành niềm tự hào của gốm Việt. Sang thời Nguyễn, nhiều dòng gốm mới xuất hiện, kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hơi thở hiện đại, tiếp nối mạch chảy sáng tạo của cha ông.
Cùng với lịch sử phát triển, kỹ thuật sản xuất gốm cũng liên tục được hoàn thiện. Ban đầu chỉ là những sản phẩm gốm thô, nung ở nhiệt độ thấp bằng lò đất hay nung lộ thiên, người thợ dần làm chủ bàn xoay, kỹ thuật tráng men, nâng nhiệt độ nung lên mức cao hơn để tạo ra những sản phẩm bền, đẹp và tinh xảo. Ngày nay, công nghệ lò gas, lò điện, các phương pháp in hoa văn hiện đại được áp dụng, giúp tăng năng suất và chất lượng, đồng thời mở ra nhiều dòng sản phẩm gốm mỹ nghệ, gốm kỹ thuật cao.
Không chỉ mang giá trị kinh tế, gốm sứ gắn liền với đời sống văn hóa người Việt: từ bát, đĩa, chum, vại trong sinh hoạt hằng ngày đến lư hương, tượng thờ, chân đèn trong không gian tín ngưỡng. Hoa văn, hình khối và màu men trên gốm thể hiện trí tưởng tượng dân gian, phản ánh phong tục, tín ngưỡng, đồng thời cho thấy sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và các nước trong khu vực.
Họa sĩ, nghệ nhân Bùi Văn Huân (sinh năm 1990 tại làng gốm Phù Lãng, Bắc Ninh) chia sẻ, trước sức ép của sản xuất công nghiệp, sự thay đổi thị hiếu, không ít làng nghề đứng trước thách thức lớn trong việc giữ nghề và phát triển bền vững. Trong suốt quá trình gắn bó với gốm, anh luôn trăn trở làm sao để những giá trị văn hóa của gốm cổ Phù Lãng, với lịch sử hơn 700 năm, được ứng dụng trong đời sống đương đại, đồng thời được nhiều người biết đến. Không chạy theo máy móc hay dây chuyền hiện đại, Bùi Văn Huân quyết định lựa chọn con đường khó hơn: làm gốm hoàn toàn theo phương pháp thủ công truyền thống. Tất cả sản phẩm mang thương hiệu “Gốm Huân” đều được tạo tác bằng đôi tay trần, kết hợp dòng men tro thực vật, được nung 100% bằng lò củi tại làng gốm cổ Phù Lãng. Nhờ đó, mỗi tác phẩm là một sáng tạo độc nhất, không trùng lặp. Cách làm này tuy vất vả, tỉ mỉ, nhưng bù lại sản phẩm ra đời chất lượng cao, được thị trường đón nhận. Bùi Văn Huân cho biết, anh vẫn giữ tinh hoa của gốm cổ, đồng thời sáng tạo thêm những nét mới để thích ứng với đời sống, tạo ra sản phẩm vừa kế thừa truyền thống, vừa mang công năng sử dụng cao và giá trị thẩm mỹ đương đại.

Nghệ nhân làng gốm Phù Lãng chau chuốt, thổi hồn lên từng sản phẩm gốm. Ảnh minh họa: Thanh Thương/TTXVN
Cuộc dạo chơi “ngẫu hứng” với gốm
Xuất phát từ niềm đam mê với gốm, nhiều họa sĩ tự tìm cho mình một lối đi riêng. Sinh năm 1958, họa sĩ Vũ Thế Kim gắn bó gần như trọn đời với bảo tàng và nghề phục chế gốm cổ. Sau khi tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội năm 1983, họa sĩ Vũ Thế Kim công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và gắn bó tại đây cho đến khi nghỉ hưu năm 2019. Hơn bốn thập kỷ làm nghề, ông vừa là người phục chế, bảo tồn cổ vật, vừa là nghệ sĩ sáng tạo, lặng lẽ gìn giữ các giá trị truyền thống.
Họa sĩ Vũ Thế Kim chia sẻ, công việc tại bảo tàng đưa ông đến với xưởng gốm, tái tạo những dòng gốm nổi tiếng của các triều đại Lý, Trần, Lê. Bên cạnh đó, ông cũng phục chế tranh sơn mài, sơn dầu, tranh bột màu; sửa chữa hiện vật bị mẻ, nứt, xuống cấp do thời gian và khí hậu. Theo ông, phục chế không chỉ “làm lại hình dáng”, quan trọng phải hiểu tinh thần và kỹ thuật của người xưa, nắm được cách tạo hình, kỹ thuật men, phương pháp trang trí để tác phẩm “sống lại” đúng tinh thần nguyên bản. Chính khoảng thời gian dài tiếp xúc trực tiếp với các hiện vật cổ đã tích lũy trong ông sự am hiểu sâu sắc về kỹ thuật và thẩm mỹ. Những “vốn liếng” này trở thành nền tảng vững chắc khi ông chính thức bước vào con đường sáng tác gốm độc bản.
Chia sẻ về lý do chọn gốm, họa sĩ Vũ Thế Kim nói, ông bị cuốn hút bởi sự biến hóa của chất liệu qua lửa. Nếu hội họa cho thấy ngay kết quả, thì gốm luôn ẩn chứa yếu tố bất ngờ. Thách thức lớn nhất của nghề không chỉ ở lao động nặng nhọc, tỉ mỉ mà còn ở việc chấp nhận tính “không thể chủ động hoàn toàn”. Người thợ có thể tạo dáng, phủ men, hình dung màu sắc, nhưng chỉ khi mở cửa lò mới biết tác phẩm đạt hay không. Nhiều sản phẩm khi ra lò bị biến dạng, song chính sự biến dạng ngẫu nhiên ấy lại tạo nên vẻ đẹp độc bản, trong nghề gọi là “hỏa biến” hay “táp lửa”. Cũng vì thế, người làm gốm phải chấp nhận tỷ lệ hỏng có thể lên tới khoảng 10%.
Khác với gốm sản xuất công nghiệp rập khuôn, sao chép, gốm Kim mang đậm dấu ấn cá nhân và tư duy tạo hình của một họa sĩ được đào tạo bài bản. Không chạy theo số lượng, ông thực hiện thủ công bằng phương pháp chuốt tay. Các tác phẩm thường lấy cảm hứng từ thiên nhiên và động vật hoặc những hình tượng mang tính triết lý như "Tam sinh"... Ông xem công việc của mình như một “cuộc dạo chơi với gốm”: sáng tác theo cảm hứng, mỗi mẻ lò chỉ làm số lượng vừa phải, bán ra để tiếp tục tái tạo sức lao động và nuôi dưỡng ý tưởng mới.
Trong sáng tạo, họa sĩ Vũ Thế Kim “nương” vào truyền thống. Ông say mê nghiên cứu gốm thời Mạc, men ngọc thời Lý, gốm hoa nâu thời Trần và hoa lam thời Lê, kết hợp thẩm mỹ và tư duy hiện đại để tạo ra những tác phẩm độc bản. Chính lối đi này giúp gốm Kim tạo được dấu ấn riêng, được thị trường đón nhận và xuất hiện thường xuyên tại các triển lãm, góp phần quảng bá vẻ đẹp văn hóa Việt đến công chúng trong và ngoài nước.
Tại triển lãm “Mộng thực” đang diễn ra ở Nhà triển lãm Mỹ thuật 16 Ngô Quyền (Hà Nội), họa sĩ Vũ Thế Kim giới thiệu hơn 60 tác phẩm gốm, xoay quanh hai mạch cảm xúc “mộng” và “thực”. “Mộng” hướng tới những điều tốt lành, những mong ước bình dị về cuộc sống an hòa; còn “thực” gắn với hiện tại, với lao động và trải nghiệm đời sống. Hai mạch này không tách rời mà đan cài vào nhau, thể hiện quan niệm nghệ thuật đề cao sự giản dị, chân thành và gần gũi với đời sống.
Dù say mê với nghề, họa sĩ Vũ Thế Kim vẫn không khỏi trăn trở về chỗ đứng của gốm Việt Nam so với gốm sứ các nước như Trung Quốc hay Nhật Bản. Theo ông, gốm Việt có bản sắc riêng và kỹ thuật không thua kém, nhưng lại yếu thế trong khâu thương mại hóa và xây dựng thương hiệu. Nhiều nơi làm gốm đẹp nhưng thiếu chiến lược tiếp thị, khó tiếp cận thị trường quốc tế. Ngay trong nước, gốm mỹ thuật cũng tiêu thụ chưa mạnh, phần vì công nghiệp phát triển, phần vì thói quen tiêu dùng.
Mặc dù còn đối mặt với không ít thách thức, nhưng với bề dày lịch sử và những chặng đường đã đi qua, gốm Việt vẫn bền bỉ tiếp tục hành trình của mình. Bằng tình yêu nghề và nỗ lực sáng tạo không ngừng, các thế hệ họa sĩ tiếp tục bảo tồn, làm mới, lan tỏa giá trị gốm Việt trong đời sống đương đại.











