Góp ý dự thảo Luật Đất đai sửa đổi từ thực tiễn quản lý tài nguyên và chuyển đổi số
Định hướng dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) có nhấn mạnh việc bảo đảm số hóa hồ sơ và quản lý đất đai dựa trên dữ liệu, trong đó đề cập mô hình phát triển dữ liệu đất đai phục vụ chính phủ số-kinh tế số-xã hội số.

Hội nghị thu hút đông đảo đại biểu tham dự. (Ảnh: HNV)
Ngày 29/9, tại Đồng Hới (Quảng Trị), hội nghị góp ý Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) từ thực tiễn quản lý tài nguyên, sinh kế cộng đồng và yêu cầu chuyển đổi số quản trị đất đai đã thu hút đông đảo đại diện thường trực Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành; Ban Quản lý Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, các ban quản lý rừng, công ty lâm nghiệp; lãnh đạo Ủy ban nhân dân và công chức địa chính của 9 xã, phường; cùng đại diện các trường, viện và tổ chức xã hội.
Hội nghị do Trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị) phối hợp cùng Trung tâm nghiên cứu quản trị tài nguyên vùng cao (CEGORN) thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức.
Hội nghị do Tiến sĩ Trần Diễm Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Giám đốc dự án và Tiến sĩ Ngô Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu quản trị tài nguyên vùng cao (CEGORN) đồng chủ trì.
Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai đáp ứng yêu cầu mới
Phát biểu khai mạc, ông Phạm Thanh Tân, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai phù hợp với yêu cầu phát triển mới và quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Ông Phạm Thanh Tân, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: HNV)
Theo Phó Giám đốc Phạm Thanh Tân, Nghị quyết số 21-NQ/TW định hướng chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại về đất đai; tăng cường vận hành trên nền tảng số, dữ liệu số và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng thời hiện đại hóa dịch vụ công và tăng cường công khai, minh bạch.
Theo thống kê, Quảng Trị có diện tích tự nhiên hơn 1,26 triệu ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm hơn 952 nghìn ha (trên 75%), là địa bàn sinh sống lâu đời của đồng bào Bru-Vân Kiều, Pa Kô, Chứt. Địa phương cũng hướng tới đáp ứng yêu cầu thông tin dữ liệu “Đúng-đủ-sạch-sống”.
Việc tổ chức vận hành chính quyền địa phương hai cấp, kết nối trực tiếp với 78 xã, phường đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện việc đồng bộ dữ liệu, phân cấp thẩm quyền gắn với năng lực thực thi và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 và Nghị định số 337/2026/NĐ-CP.
Thông tin về yêu cầu công khai, minh bạch trong dự thảo Luật Đất đai, gắn với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 và Nghị định số 337/2026/NĐ-CP, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự-Hành chính, Bộ Tư pháp khuyến nghị cơ quan chủ trì soạn thảo Luật Đất đai sửa đổi tham khảo Điều 25, Hiến pháp năm 2013, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 151/2025/NĐ-CP để bổ sung quy định về những thông tin đất đai phải được công khai cho công chúng cũng như trách nhiệm, thời hạn và phương thức công khai để hoàn thiện bộ hồ sơ Dự án Luật Đất đai sửa đổi.

Hội nghị là sự kiện thuộc khuôn khổ dự án “Tăng cường tiếp cận thông tin thông qua chuyển đổi số trong quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” do Tổ chức Stichting Oxfam Novib tại Việt Nam tài trợ. (Ảnh: HNV)
Cũng theo Tiến sĩ Kim Thoa, cần bổ sung quy định phải có đánh giá tác động đối với các dự án liên quan đến việc thu hồi đất tương tự như phải đánh giá tác động môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường để làm cơ sở phê duyệt dự án và thu hồi đất.
Cụ thể, bà Thoa cho rằng, quá trình đánh giá tác động cần lấy ý kiến người dân khu vực liên quan và dự thảo đánh giá tác động phải được công khai để người dân biết. Bản đánh giá tác động phải được trình cùng bộ hồ sơ dự án để cơ quan có thẩm quyền có căn cứ phê duyệt hoặc từ chối. Hồ sơ dự án được phê duyệt phải công khai rộng rãi, bao gồm, quyết định phê duyệt, báo cáo đánh giá tác động và bản thuyết minh. Nội dung báo cáo đánh giá tác động phải lý giải được mục đích thu hồi đất, địa điểm và diện tích đất được thu hồi và lý do lựa chọn địa điểm thực hiện dự án; những ảnh đến kinh tế-xã hội, công ăn, việc làm, học hành và nơi ở của người dân cũng như những phương án xử lý các vấn đề trên và lộ trình thực hiện.

Ông Trần Hữu Ninh, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: HNV)
Dịp này, ông Trần Hữu Ninh, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Trị đã trao đổi về nhu cầu tiếp cận đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó, đề xuất tăng cường công khai thông tin về quỹ đất nông, lâm trường thu hồi và trực quan hóa dữ liệu thông qua bản đồ, các hình thức truyền thông phù hợp, trong đó có phát thanh bằng tiếng dân tộc theo các quy định, chính sách có liên quan của tỉnh.
“Điều kiện tiếp cận internet, kỹ năng số, khả năng đọc hiểu văn bản pháp luật, khoảng cách địa lý và điều kiện kinh tế-xã hội và cả đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa là yếu tố cần được tính đến trong việc công khai các thông tin về đất đai cũng như các lĩnh vực quy định về tiếp cận thông tin, nhất là với đồng bào dân tộc thiểu số”, ông Trần Hữu Ninh bày tỏ.
Cũng dịp này, ông Trần Văn Khương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường báo cáo kết quả số hóa khoảng 2,43 triệu thửa đất đồng thời trao đổi về một số vấn đề kỹ thuật trong quá trình vận hành, đồng bộ dữ liệu và yêu cầu nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của công chức địa chính cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Theo ông Khương, trước yêu cầu ngày càng cao về quản trị dựa trên dữ liệu thì vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết, nhất là về tính đồng bộ, đầy đủ, chính xác, kịp thời của dữ liệu; khả năng kết nối, chia sẻ giữa các hệ thống; trách nhiệm quản trị dữ liệu; mức độ chủ động trong công khai, cung cấp thông tin và yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu.
“Đặc biệt, quá trình chuyển đổi số phải lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Mục tiêu cuối cùng của việc xây dựng cơ sở dữ liệu và các hệ thống thông tin không chỉ là tạo ra những nền tảng công nghệ hiện đại mà quan trọng hơn là giúp người dân tiếp cận thông tin thuận lợi hơn, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục, nâng cao tính minh bạch trong quản lý nhà nước và tạo điều kiện để doanh nghiệp khai thác dữ liệu phục vụ sản xuất, kinh doanh”, ông Khương nhận định.
Song song, bà Nguyễn Thị Lài, Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật trực thuộc Hội Luật gia tỉnh Quảng Trị đề xuất tiếp tục hoàn thiện các quy định về cung cấp thông tin đất đai, góp phần nâng cao tính minh bạch, hạn chế phát sinh vướng mắc trong thực tiễn và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước từ cơ sở.

Các đại biểu chia sẻ ý kiến tại hội nghị. (Ảnh: HNV)
Tại hội nghị, ông Nguyễn Đức Lam, Viện Nghiên cứu chính sách và phát triển truyền thông (IPS) thuộc Hội truyền thông số Việt Nam đề xuất dự thảo Luật Đất đai sửa đổi cần tập trung vào xác định vị thế pháp lý của dữ liệu đất đai, bảo đảm điều kiện cho quản trị dữ liệu, bảo đảm chất lượng dữ liệu: luật hóa bốn tiêu chí, bảo vệ dữ liệu cá nhân trong lĩnh vực đất đai, tăng cường minh bạch trong lĩnh vực đất đai cũng như sự tham gia của nhân dân, bảo đảm bao trùm.
Tiếp cận thông tin trong lĩnh vực đất đai - những quy định đáp ứng công khai, minh bạch
Đáng chú ý, các đại biểu đã tập trung trao đổi về yêu cầu tổ chức quy trình cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện thực tế tại các xã có địa bàn rộng và khối lượng công việc lớn, bao gồm: quy trình tiếp nhận, xử lý Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin tại Bộ phận tiếp nhận cấp xã theo Nghị định số 337/2026/NĐ-CP; phương án phân quyền tra cứu dữ liệu địa chính số cho cấp xã; cũng như các giải pháp hỗ trợ các nhóm có nhu cầu trong quá trình tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật.
Đặc biệt, hội nghị cũng sôi nổi thảo luận về phương án đa dạng hóa hình thức công khai thông tin, hướng tới việc cung cấp thông tin theo bộ hồ sơ gồm Quyết định, Thuyết minh và Bản đồ số, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tra cứu, sử dụng và kiểm chứng thông tin.
Một số đại biểu cấp xã, trong đó có các xã: Tuyên Hóa, Phong Nha, Bố Trạch... đã trao đổi về nhu cầu dữ liệu phục vụ công tác định giá đất và đề xuất tăng cường công khai các thông tin đầu vào, đồng thời làm rõ khái niệm và phương pháp áp dụng các quy định liên quan đến bồi thường trong dự thảo để thuận tiện cho quá trình thực hiện và giám sát.

Quảng Trị là một trong các địa phương có diện tích rừng lớn trong cả nước. (Ảnh: CTV)
Từ đặc điểm diện tích đất lâm nghiệp lớn của địa phương, các đại biểu tại hội nghị cũng trao đổi về một số trường hợp khu vực canh tác lâu đời của người dân có sự giao thoa với ranh giới các loại rừng theo hồ sơ, bản đồ quản lý hiện hành, từ đó, tập trung thảo luận các giải pháp tăng cường liên thông cơ sở dữ liệu đất đai và lâm nghiệp, trong đó có việc hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu liên quan đến quản lý, sử dụng đất và cung cấp thông tin về chi trả dịch vụ môi trường rừng đến cộng đồng dân cư.
Ngoài ra, các đại biểu còn trao đổi về một số vấn đề kỹ thuật trong quá trình hoàn thiện và kết nối cơ sở dữ liệu đồng thời thảo luận các giải pháp chuẩn hóa, đối soát và cập nhật thông tin nhằm nâng cao chất lượng dữ liệu đất đai. Đơn cử như: việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ thông tin cá nhân khi công khai dữ liệu, như bóc tách hoặc che mờ các thông tin định danh, số điện thoại, số tài khoản và các thông tin cá nhân khác theo quy định của pháp luật khi công khai các danh sách liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Hội thảo nhất trí cao rằng, Nghị quyết số 21-NQ/TW và định hướng trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đều nhấn mạnh từ số hóa hồ sơ đến quản lý đất đai dựa trên dữ liệu, trong đó, mô hình phát triển dữ liệu đất đai phục vụ chính phủ số-kinh tế số-xã hội số. Cụ thể, mô hình chính phủ số tập trung vào quản lý hiệu quả-minh bạch-dựa trên dữ liệu; kinh tế số tập trung vào khai thác dữ liệu-tạo giá trị-thúc đẩy phát triển cùng xã hội số tập trung vào người dân là trung tâm-dễ tiếp cận-dễ sử dụng.

Một góc phường Đồng Hới bên bờ sông Nhật Lệ, Quảng Trị. (Ảnh: HNV)
Trong đó, liên quan tới thể chế, tập trung quy định về xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác, chia sẻ, kết nối hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đất đai; quy định về khai thác, chia sẻ, cung cấp dữ liệu đất đai phục vụ thị trường bất động sản , định giá, đầu tư; tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính đất đai, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng dữ liệu.
Về hạ tầng số, cần bảo đảm hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia và hạ tầng thông tin của các Bộ, ngành; hạ tầng dữ liệu đất đai phục vụ giao dịch, định giá, quy hoạch, đầu tư và dịch vụ số; cổng/dịch vụ số để tra cứu thông tin; thực hiện thủ tục hành chính đất đai trực tuyến.
Cùng với đó còn là đáp ứng nguồn nhân lực số trên cơ sở cán bộ quản lý, địa chính có năng lực khai thác cơ sở dữ liệu, xử lý hồ sơ, vận hành hệ thống; nhân lực phân tích dữ liệu, định giá, quy hoạch, đầu tư, dịch vụ bất động sản; người dân, doanh nghiệp có kỹ năng sử dụng dịch vụ và thông tin đất đai số.
Tất cả đều vì mục tiêu chung nhằm khai thác hiệu quả dữ liệu đất đai, phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp với phương châm “Chính phủ số hiệu lực, kinh tế số bền vững và xã hội số nhân văn”.
