Greenland, tàu phá băng và nghịch lý chiến lược của Mỹ
Băng giá quanh năm ở Greenland khiến tàu phá băng trở thành công nghệ then chốt đối với mọi kế hoạch của Mỹ tại hòn đảo này. Tuy nhiên, năng lực đóng và vận hành loại tàu đặc biệt này hiện chủ yếu nằm trong tay các đồng minh hoặc đối thủ chiến lược của Washington.
Thực tế phũ phàng mà mọi kế hoạch của Mỹ, NATO hay châu Âu đối với Greenland phải đối mặt chính là băng giá. Băng bao phủ các cảng biển, chôn vùi tài nguyên khoáng sản và biến đường bờ biển thành những “bãi mìn” tự nhiên với các mảng băng trắng - xanh sắc nhọn, đe dọa tàu thuyền quanh năm.
Cách duy nhất để xuyên qua lớp băng đó là sử dụng tàu phá băng - những con tàu khổng lồ được trang bị động cơ công suất lớn, thân tàu gia cố đặc biệt và mũi tàu lớn, có khả năng nghiền nát và tách lớp băng dày.
Tuy nhiên, Mỹ hiện chỉ sở hữu 3 tàu phá băng, trong đó có một chiếc đã quá cũ, gần như không còn khả năng hoạt động hiệu quả. Washington đã ký các thỏa thuận để mua thêm 11 tàu phá băng mới, song các nguồn cung chủ yếu chỉ đến từ các đối thủ chiến lược - hoặc từ những đồng minh mà Mỹ gần đây lại có những động thái gây căng thẳng.

Những tảng băng trôi trên vùng biển quanh đảo Qoornoq, gần Nuuk, Greenland, ngày 17/2/2025. Ảnh: AP
Công nghệ then chốt ở Bắc Cực
Dù đã hạ giọng trong các phát ngôn gần đây, Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn thể hiện rõ mong muốn Mỹ sở hữu Greenland vì các lý do an ninh và kinh tế: ngăn chặn “mảnh băng khổng lồ và tuyệt đẹp” này rơi vào tay Moscow và Bắc Kinh, bảo đảm một vị trí chiến lược cho các khí tài Mỹ tại Bắc Cực, đồng thời khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản, trong đó có đất hiếm.
Phát biểu trước các nhà lãnh đạo thế giới tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos (Thụy Sĩ) tháng trước, Tổng thống Donald Trump cho rằng để tiếp cận các mỏ đất hiếm, “phải đi xuyên qua hàng chục mét băng”.
Tuy nhiên, trên thực tế, không có cách nào để làm được điều đó hay triển khai bất kỳ hoạt động đáng kể nào tại vùng lãnh thổ tự trị thuộc Đan Mạch này nếu thiếu năng lực then chốt của tàu phá băng trong việc mở đường xuyên qua các vùng biển đóng băng.
Theo ông Alberto Rizzi, chuyên gia thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại châu Âu (ECFR), ngay cả khi Mỹ quyết định đẩy mạnh triển khai lực lượng và vật tư tới Greenland ngay lập tức, Washington vẫn sẽ phải đối mặt với khoảng trống từ 2 đến 3 năm, trong đó khả năng tiếp cận hòn đảo này là rất hạn chế.
“Nhìn trên bản đồ, Greenland dường như được bao quanh bởi biển, nhưng trên thực tế, phần lớn mặt biển ở đây đều bị băng bao phủ”, ông Rizzi nói.
Nếu Mỹ muốn bổ sung thêm tàu phá băng, họ chỉ có 4 lựa chọn: các xưởng đóng tàu của 2 đối thủ chiến lược là Trung Quốc và Nga, hoặc của 2 đồng minh lâu năm là Canada và Phần Lan - những nước gần đây cũng hứng chịu các chỉ trích gay gắt và đe dọa áp thuế từ Tổng thống Trump liên quan đến vấn đề Greenland.
Tàu phá băng là loại phương tiện có chi phí thiết kế, đóng mới, vận hành và bảo dưỡng rất cao, đồng thời đòi hỏi đội ngũ kỹ sư và công nhân lành nghề mà chỉ có thể tìm thấy ở một số quốc gia, điển hình là Phần Lan, nơi kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thập kỷ hoạt động tại vùng biển Baltic lạnh giá.
Theo ông Rizzi, Phần Lan đã đóng khoảng 60% trong tổng số hơn 240 tàu phá băng trên toàn thế giới, đồng thời thiết kế khoảng một nửa số còn lại.
“Đây là những năng lực rất chuyên biệt, ban đầu được phát triển vì nhu cầu sinh tồn, sau đó được chuyển hóa thành lợi thế địa kinh tế”, ông Rizzi đánh giá.
Theo báo cáo năm 2024 của Aker Arctic - công ty thiết kế tàu phá băng có trụ sở tại Helsinki (Phần Lan), Nga hiện sở hữu đội tàu phá băng lớn nhất thế giới với khoảng 100 chiếc, trong đó có những tàu khổng lồ chạy bằng năng lượng hạt nhân. Canada đứng thứ hai và dự kiến sẽ nâng tổng số tàu phá băng lên khoảng 50 chiếc.
Ông Jari Hurttia, Giám đốc kinh doanh của Aker Arctic, cho biết các đơn hàng thiết kế và kỹ thuật của công ty hiện đã kín lịch, trong bối cảnh nhu cầu ngày càng tăng đối với “năng lực chuyên môn đặc biệt mà không nơi nào khác trên thế giới có được”.
Mỹ đang tụt lại phía sau
Trung Quốc hiện sở hữu 5 tàu phá băng, nhiều hơn Mỹ (3 chiếc). Theo ông Marc Lanteigne, giáo sư Đại học Tromsø (Na Uy), người thường xuyên giảng dạy tại Đại học Greenland ở Nuuk, Trung Quốc đang nhanh chóng mở rộng đội tàu này khi tham vọng tại Bắc Cực ngày càng lớn.
“Trung Quốc hiện có đủ năng lực để tự phát triển tàu phá băng, và điều đó khiến Mỹ cảm thấy cần phải làm điều tương tự”, ông Lanteigne nhận định.
Theo bà Sophie Arts, chuyên gia về an ninh Bắc Cực tại Quỹ Marshall Đức, Washington đang tụt lại phía sau và cần phải hành động nhanh chóng.
“Tổng thống Trump đã nhiều lần phàn nàn về việc Mỹ thiếu tàu phá băng, đặc biệt khi so sánh với Nga”, bà Arts cho biết, đồng thời nhấn mạnh rằng 2 trong số 3 tàu phá băng hiện có của Mỹ “về cơ bản đã vượt quá vòng đời sử dụng”. Vì vậy, Washington buộc phải tìm đến năng lực không thể phủ nhận của Phần Lan - quốc gia cực Bắc của Liên minh châu Âu - và Canada, láng giềng phía Bắc của Mỹ.
“Cả Canada và Phần Lan đều đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Hợp tác là yếu tố then chốt để hiện thực hóa điều này, bởi hiện tại Mỹ không có con đường nào để tự làm một mình”, bà Arts nhấn mạnh.
Trong nhiệm kỳ đầu, Tổng thống Trump từng ưu tiên việc Mỹ mua sắm các tàu có khả năng hoạt động trong băng giá. Chính quyền Tổng thống Joe Biden sau đó tiếp tục chiến lược này bằng việc ký thỏa thuận Ice PACT với Phần Lan và Canada, nhằm cung cấp 11 tàu phá băng được thiết kế theo công nghệ Phần Lan.
Theo kế hoạch, 4 tàu sẽ được đóng tại Phần Lan, trong khi 7 tàu còn lại sẽ được chế tạo tại một “Nhà máy tàu phá băng Mỹ” trị giá hàng tỷ USD ở bang Texas, cùng một xưởng đóng tàu tại bang Mississippi, dưới hình thức sở hữu chung Mỹ - Canada.
Chi phí khổng lồ và bài toán chiến lược
Việc khai thác các khoáng sản chiến lược tại Greenland sẽ phải đối mặt với chi phí rất cao do điều kiện khắc nghiệt cả trên biển lẫn trên đất liền. Theo ông Lanteigne, các khoản đầu tư tại đây có thể mất nhiều năm, thậm chí hàng thập kỷ, mới có khả năng sinh lời.
Ngay cả khi có đủ tàu phá băng, chi phí xây dựng và duy trì các cơ sở khai thác hay phòng thủ - chẳng hạn như những hạ tầng nằm trong kế hoạch hệ thống phòng thủ tên lửa “Vòm Vàng” (Golden Dome) trị giá 175 tỷ USD, kết nối các cảm biến và tên lửa đánh chặn trên không gian và mặt đất - vẫn sẽ ở mức khổng lồ.
Điều này khiến các đồng minh của Mỹ tại Bắc Cực có thể vẫn hoan nghênh việc Washington tăng cường đầu tư vào Greenland. Trong một tuyên bố, Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen cho biết bà sẵn sàng xem xét việc tăng cường an ninh Bắc Cực, bao gồm cả chương trình Vòm Vàng của Mỹ, “với điều kiện mọi hoạt động phải tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Đan Mạch”.
Dù cả Mỹ và Liên minh châu Âu gồm 27 quốc gia - trong đó có Đan Mạch và Phần Lan - đều cam kết tăng mạnh đầu tư vào Greenland, nhưng hiện nay, câu hỏi then chốt là ai thực sự có năng lực “cứng” để tiếp cận vùng lãnh thổ đóng băng này, có diện tích lớn gấp khoảng ba lần bang Texas (Mỹ).
“Thật vô lý nếu nghĩ rằng Phần Lan sẽ hủy thỏa thuận với Mỹ chỉ vì những lời đe dọa liên quan đến Greenland. Nhưng nếu châu Âu muốn tạo ra đòn bẩy đáng kể đối với Mỹ, họ hoàn toàn có thể nói rằng: ‘Chúng tôi sẽ không cung cấp tàu phá băng, và chúc may mắn nếu các ông muốn tiếp cận Bắc Cực hay triển khai sức mạnh ở đó chỉ với 2 con tàu cũ kỹ’”, ông Rizzi nói.
Tại Davos, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen nhấn mạnh vai trò then chốt của nền tảng công nghệ EU trong mọi nỗ lực tại Bắc Cực. “Phần Lan - một trong những thành viên mới nhất của NATO - đang bán những tàu phá băng đầu tiên cho Mỹ. Điều này cho thấy chúng ta có năng lực ngay tại đây, giữa băng giá, rằng các quốc gia NATO ở phương Bắc đã sẵn sàng cho môi trường Bắc Cực, và trên hết an ninh Bắc Cực chỉ có thể đạt được thông qua hợp tác”, bà Leyen nói.
Sau cuộc họp khẩn của 27 nhà lãnh đạo EU tại Brussels (Bỉ) cuối tháng 1, bà Leyen cũng tuyên bố Liên minh châu Âu sẽ tăng chi tiêu quốc phòng tại Greenland, trong đó có việc đầu tư thêm tàu phá băng.














