GS Nguyễn Đức Khương: Nhân tài chọn người dẫn dắt, không chỉ chọn tổ chức
Nghị quyết Đại hội XIV xác định đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình, trong đó nhân tài và khoa học công nghệ là những động lực then chốt. Tuy nhiên, để những 'cánh chim đầu đàn' thực sự hồi hương, cơ chế đãi ngộ về tài chính liệu đã đủ? Phóng viên Chuyên trang Sinh Viên Việt Nam - Báo Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Đức Khương – Giám đốc phát triển quốc tế, Tổ hợp Đại học Léonard de Vinci (Pháp), Chủ tịch AVSE Global về lời giải cho bài toán thu hút trí thức trong bối cảnh mới.
Thưa Giáo sư, Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh việc hoàn thiện “cơ chế, chính sách vượt trội” phù hợp với đặc thù lao động sáng tạo, đặc biệt trong các lĩnh vực khó như bán dẫn hay AI. Từ kinh nghiệm quốc tế, theo ông, thế nào là một cơ chế thực sự vượt trội để các nhà khoa học yên tâm dấn thân?
GS. Nguyễn Đức Khương: Chủ trương tạo ra cơ chế bứt phá để cạnh tranh và nâng cao vị thế quốc tế là một hướng đi đúng, tạo cảm hứng phát triển cao độ. Để hiện thực hóa điều này, chúng ta cần nhìn nhận “vượt trội” ở ba khía cạnh cốt lõi:
Thứ nhất, vượt trội về môi trường và văn hóa làm việc: Chính sách đãi ngộ chỉ là điều kiện cần. Để cạnh tranh với các trung tâm lớn như Singapore, Hàn Quốc hay Hồng Kông, chúng ta phải nhanh chóng xây dựng được môi trường làm việc chuẩn quốc tế. Đó là nơi đề cao tính học thuật, tự do sáng tạo và có hệ sinh thái để ứng dụng tri thức vào thực tiễn doanh nghiệp.
Thứ hai, vượt trội về tính đồng bộ của đội ngũ: Chúng ta cần những “cánh chim đầu đàn”, nhưng họ sẽ rất khó tạo ra những thành công vượt trội khi về Việt Nam nếu thiếu đội ngũ cộng sự, đồng nghiệp chuyên nghiệp và có trình độ chuyên môn cao. Cơ chế đột phá phải là cơ chế cho phép xây dựng dần dần cả một “team” (đội nhóm) nghiên cứu mạnh, hỗ trợ nhau giải quyết các bài toán lớn, chứ không chỉ thu hút cá nhân đơn lẻ.
Thứ ba, vượt trội trong tư duy chấp nhận rủi ro: Nghiên cứu khoa học và cả ứng dụng KHCN vào thực tiễn là một quá trình tìm tòi, không ai dám chắc kết quả sẽ ra đúng như kỳ vọng hay đúng lộ trình, thời điểm dự kiến. Chấp nhận rủi ro, chấp nhận có những điều chỉnh cần được xem là tiền đề tạo hành lang pháp lý thông thoáng, giúp nhà khoa học nghĩ lớn, làm lớn mà không ngại “dấn thân” vào các dự án dài hạn có lợi ích và rủi ro cao.

GS Nguyễn Đức Khương: "Chấp nhận rủi ro, chấp nhận có những điều chỉnh cần được xem là tiền đề tạo hành lang pháp lý thông thoáng, giúp nhà khoa học nghĩ lớn, làm lớn mà không ngại 'dấn thân' vào các dự án dài hạn có lợi ích và rủi ro cao". (Ảnh: Lê Vượng)
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là cơ chế tài chính. Nghị quyết XIV yêu cầu “tháo gỡ dứt điểm các nút thắt”, trọng tâm là cơ chế quản lý, đầu tư và tự chủ. Theo ông, làm thế nào để chuyển đổi tư duy từ “cấp phát hành chính” sang “đầu tư phát triển”?
GS. Nguyễn Đức Khương: Đây là mong mỏi cấp thiết không chỉ của các chuyên gia quốc tế mà còn của giới trí thức, nhà khoa học trong nước. Để tạo đột phá, chúng ta cần thay đổi tư duy quản lý theo ba hướng:
Đầu tiên là đơn giản hóa quy trình quản lý khoa học: Không nên để nhà khoa học mất quá nhiều thời gian giải trình các thủ tục hành chính, giấy tờ vụn vặt. Khi các thủ tục hành chính được cởi trói, nhà khoa học mới có thể dành trọn tâm trí và thời gian cho công tác chuyên môn. Đây là một động lực không nhỏ thúc đẩy họ cống hiến và sáng tạo ra những công nghệ mới.
Tiếp đến, quản lý khoa học nên chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”: Cơ quan quản lý khoa học nên tập trung vào đánh giá, lựa chọn các dự án có chất lượng, tiềm năng và phương pháp thực hiện phù hợp, yêu cầu các báo cáo tiến độ giữa kỳ, và quan trọng nhất là đánh giá hiệu quả đầu ra. Kết quả và giải trình kết quả dự án là tiền đề, cơ sở cho việc lựa chọn đội, nhóm trong các dự án tiếp theo.
Cuối cùng là trao quyền tự chủ tài chính: Cần tin tưởng và giao quyền cho các chủ nhiệm đề tài, các nhóm nghiên cứu được đề xuất phân bổ ngân sách và linh hoạt sử dụng gói tài trợ để theo đuổi các chương trình nghiên cứu KHCN dài hạn, nhất là các dự án có mức độ rủi ro cao, đồng thời đạt mục tiêu chuyên môn đã đề ra.
Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho KHCN. Tuy nhiên, mối liên kết giữa nhà khoa học trẻ và doanh nghiệp vẫn còn lỏng lẻo. Ông có hiến kế gì để “thị trường hóa” các nghiên cứu, giúp trí thức trẻ sống được bằng sản phẩm trí tuệ của mình?
GS. Nguyễn Đức Khương: Để giải quyết bài toán này, chúng ta cần tiếp cận theo mô hình “3 tầng” mà nhiều nước đã áp dụng thành công:
Tầng thứ nhất - Hỗ trợ doanh nghiệp: Nhà nước cần có chính sách (như ưu đãi thuế) để khuyến khích các doanh nghiệp – đặc biệt là khối tư nhân – đầu tư vào R&D (nghiên cứu và phát triển). Khi doanh nghiệp lớn mạnh, nhu cầu đổi mới công nghệ tăng lên, họ sẽ tự tìm đến và tuyển dụng các nhà nghiên cứu trẻ vào bộ phận R&D của mình, hay đề xuất các hợp tác với trường, viện nghiên cứu...
Tầng thứ hai - Hợp tác qua dự án: Các nhà nghiên cứu trẻ nên được tham gia vào các đội nhóm tại trường đại học, dưới sự dẫn dắt của các chuyên gia, giáo sư giàu kinh nghiệm thực tiễn. Thông qua các dự án hợp tác, tư vấn giữa nhà trường và doanh nghiệp, người trẻ sẽ học được cách đưa kiến thức hàn lâm, những kết quả nghiên cứu vào giải quyết bài toán thực tế của thị trường.
Tầng thứ ba - Khuyến khích khởi nghiệp (Spin-off): Khi nhà nghiên cứu trẻ đã có năng lực, kiến thức khoa học tốt và nhất là những người sở hữu các bằng sáng chế (patents), cần có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ họ thành lập các doanh nghiệp khởi nghiệp ngay từ kết quả nghiên cứu (spin-off). Đây là bước cao nhất để thương mại hóa tri thức và tạo ra giá trị gia tăng trực tiếp cho nền kinh tế.
Để đạt mục tiêu nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030, việc thu hút nhân tài là sống còn. Với mạng lưới tri thức toàn cầu, theo ông, yếu tố nào, ngoài thu nhập, đủ sức thuyết phục họ về nước tham gia các dự án lớn?
GS. Nguyễn Đức Khương: Rất khó để chúng ta cạnh tranh ngay lập tức về mức lương với các trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn có sức hút riêng nếu chúng ta làm tốt việc:
Khơi dậy lòng yêu nước và khát vọng cống hiến. Trí thức người Việt ở nước ngoài luôn có tình yêu quê hương và mong muốn được đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của đất nước.

"Thực tế, vì người tài thường chọn người dẫn dắt, không chỉ chọn tổ chức, nên phải có người dẫn dắt tốt thì mới thu hút và sử dụng được người tài", GS Nguyễn Đức Khương chia sẻ.
Cơ chế “dụng nhân” đặc biệt đối vớinhững “cánh chim đầu đàn” – những người có uy tín và mạng lưới quốc tế rộng – có ý nghĩa rất lớn. Không có cách nào hay hơn việc phải chủ động mạnh dạn tìm kiếm và thuyết phục. Khi những người này về, họ sẽ tạo ra từ trường để thu hút thêm nhiều người giỏi khác đi theo.
Và trên hết làtrao quyền thực chất. Nhiều quốc gia đã mạnh dạn bổ nhiệm những chuyên gia có năng lực, kinh nghiệm quốc tế vào các vị trí quản lý, điều hành có thực quyền quyết sách. Tôi cho rằng với tinh thần đổi mới hiện nay, chúng ta hoàn toàn có khả năng làm được việc này. Với nhóm chuyên gia này thì không nên bắt họ phải đi lại quy trình từ thấp đến cao, từ thử nghiệm đến bổ nhiệm, mà hãy đưa họ vào ngay các “sàn đấu đủ lớn” và hỗ trợ họ hoàn thành mục tiêu chung của cơ quan, tổ chức. Thực tế, vì người tài thường chọn người dẫn dắt, không chỉ chọn tổ chức, nên phải có người dẫn dắt tốt thì mới thu hút và sử dụng được người tài.











