'Gửi tiền'... dưới sông!
Tận dụng lợi thế mặt nước trên sông Ô Lâu, Ô Giang, nhiều hộ dân ở thôn Hải Tân, xã Nam Hải Lăng đã phát triển nghề cá trong lồng bè, mang lại nguồn thu nhập khá ổn định. Đáng chú ý, thay vì chỉ tập trung vào một đối tượng nuôi, bà con đã linh hoạt kết hợp nuôi cá leo có thời gian nuôi ngắn với cá chình có giá trị kinh tế cao, tạo nguồn thu thường xuyên và tích lũy lâu dài. Cách làm này không chỉ giúp người dân khai thác hiệu quả tiềm năng sông nước mà còn mở ra hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện địa phương.
Gắn bó với nghề nuôi cá lồng nhiều năm, anh Phạm Văn Thiện, ở thôn Hải Tân đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn con giống, chăm sóc và thu hoạch. Hiện, gia đình anh duy trì 3 lồng nuôi bằng nhôm, mỗi lồng có thể tích khoảng 12m3, trong đó có 2 lồng nuôi cá chình và 1 lồng nuôi cá leo.

Khu vực nuôi cá lồng trên sông Ô Lâu đoạn qua thôn Hải Tân, xã Nam Hải Lăng - Ảnh: L.A
Theo anh Thiện, việc kết hợp hai đối tượng nuôi này mang lại nhiều thuận lợi, bởi cá leo có thời gian sinh trưởng ngắn, giúp gia đình có nguồn thu thường xuyên để trang trải sinh hoạt, trong khi cá chình có giá trị kinh tế cao, phù hợp để tích lũy lâu dài.
Anh Thiện cho biết, đối với cá chình, mỗi lồng thường thả nuôi từ 250-300 con giống có kích cỡ khoảng 10 con/kg. Sau thời gian chăm sóc từ 1,5-2 năm, cá đạt trọng lượng bình quân từ 1,2-1,5kg/con, những cá thể vượt đàn có thể đạt tới 2kg/con. Với giá bán từ 500.000 đồng/kg trở lên, tùy số lượng và trọng lượng cá xuất bán, mỗi lồng có thể mang lại doanh thu từ 110-130 triệu đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư, theo ước tính của anh, lợi nhuận đạt khoảng 80-100 triệu đồng/lồng.
Trong khi đó, cá leo có ưu điểm sinh trưởng nhanh, chỉ sau khoảng 1,5-2 tháng chăm sóc đã có thể đạt trọng lượng thương phẩm từ 1-1,5kg/con. Với 300-400 con cá giống/lồng, giá bán khoảng 75.000 đồng/kg, mỗi lồng nuôi có thể mang lại lợi nhuận từ 15-20 triệu đồng/lứa.

Người dân thôn Hải Tân, xã Nam Hải Lăng thu hoạch cá chình nuôi - Ảnh: L.A
Theo anh Thiện, chính sự khác biệt về thời gian nuôi và giá trị kinh tế đã giúp hai đối tượng cá này bổ trợ cho nhau khá tốt. Nếu cá leo được nuôi nhiều lứa trong năm để đáp ứng nhu cầu chi tiêu hằng ngày thì cá chình lại được xem như một khoản tích lũy. Do thời gian nuôi kéo dài, người nuôi có thể thu tỉa những con lớn trước, tiếp tục chăm sóc số cá còn lại. Đối với những hộ có nhiều lồng, việc bố trí các lứa cá gối đầu còn giúp bảo đảm sản phẩm cung ứng đều đặn ra thị trường, không phải phụ thuộc vào một đợt thu hoạch duy nhất.
Cũng lựa chọn cách nuôi kết hợp này, gia đình anh Phạm Viết Tin, ở thôn Hải Tân, hiện duy trì 4 lồng nuôi, trong đó có 2 lồng cá chình và 2 lồng cá leo. Theo anh Tin, để mô hình mang lại hiệu quả, người nuôi phải tính toán hợp lý thời điểm thả giống, thu hoạch và đặc biệt là chủ động nguồn thức ăn. Bởi cả cá chình và cá leo đều có nhu cầu thức ăn khá lớn, nhất là trong giai đoạn phát triển mạnh.
Nếu không được cung cấp đủ thức ăn, cá có thể ăn lẫn nhau, ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và hiệu quả chăn nuôi. Đơn cử như đối với cá leo, khi gần đạt kích cỡ thương phẩm, một lồng nuôi từ 300-400 con có thể tiêu thụ đến 30kg cá tạp mỗi ngày.
Anh cho biết, tuy nhu cầu thức ăn lớn nhưng nhờ tận dụng được nguồn cá tạp từ hoạt động chài lưới nên chi phí cho khoản này tương đối thấp. Chi phí đầu tư chủ yếu tập trung vào con giống, trong khi tiền thức ăn không chiếm tỉ trọng lớn như nhiều mô hình nuôi thủy sản sử dụng thức ăn công nghiệp. Hầu hết các hộ nuôi cá lồng trong thôn đều có nghề chài lưới trên sông nên nguồn thức ăn cho cá khá dồi dào. Đây là một trong những thuận lợi giúp người nuôi cá như chúng tôi giảm được chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Cá chình đạt kích cỡ thương phẩm được xuất bán - Ảnh: L.A
Theo anh Phạm Viết Tin, với thời gian nuôi ngắn, cá leo giúp gia đình nhanh chóng thu hồi vốn, có tiền trang trải các khoản chi phí sinh hoạt, đồng thời tiếp tục đầu tư nuôi cá chình. Ngược lại, cá chình có thời gian nuôi dài nhưng giá trị thương phẩm cao nên thường được giữ lại như một khoản tiền tiết kiệm. Cách nuôi này vừa tạo nguồn thu trước mắt, vừa giúp người dân chủ động tích lũy mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào một đối tượng nuôi.
Ông Phạm Văn Văn, Tổ trưởng Tổ hợp tác nuôi cá nước ngọt thôn Hải Tân cho biết, nghề nuôi cá lồng trên sông Ô Lâu, Ô Giang đã được người dân duy trì trong nhiều năm, mang lại nguồn thu nhập tương đối ổn định cho nhiều hộ gia đình. Theo thống kê, trong tổ hiện có hơn 20 thành viên với gần 40 lồng nuôi cá chình, cá leo. Trong đó, cá leo có thời gian nuôi ngắn, có thể thu hoạch nhiều lứa trong năm, giúp người nuôi trang trải sinh hoạt thường ngày. Còn cá chình do thời gian nuôi dài ngày, giá trị kinh tế cao được xem là khoản tích lũy phục vụ những nhu cầu lớn của gia đình.
“Cũng từ cách nuôi linh hoạt này, người nuôi cá lồng thường ví von nuôi cá chình giống như đang “gửi tiền ở dưới sông”. Đây được xem như khoản chi phí dự phòng để trang trải những việc quan trọng của gia đình như cưới hỏi cho con cái, sửa sang nhà cửa”, ông Văn cho hay.

Chuẩn bị dây buộc, cọc neo nhằm bảo đảm an toàn lồng bè trước mùa mưa bão - Ảnh: L.A
Ông Văn lưu ý, do cá chình có thời gian nuôi dài, từ 1,5-2 năm nên đàn cá gần như phải trải qua các đợt mưa lớn, lũ trên sông. Trong khi đó, giá trị kinh tế của mỗi lồng nuôi khá lớn nên để bảo đảm an toàn lồng bè, trước mỗi mùa mưa bão, người nuôi cần chuẩn bị dây, cọc neo, kiểm tra hệ thống lồng nuôi và thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết. Khi có mưa lớn, nước lũ từ thượng nguồn đổ về, cần tranh thủ di chuyển lồng vào sát bờ để neo giữ, hạn chế nguy cơ bị dòng nước cuốn trôi.
Đặc biệt, từ kinh nghiệm thực tế, người nuôi tại địa phương đã cải tiến thiết kế lồng nuôi bằng nhôm với phần đầu nhọn theo dạng mũi thuyền, thay cho kiểu lồng đầu ngang trước đây. Thiết kế này giúp giảm sức cản của dòng nước khi lũ đổ về mạnh, đồng thời tạo thuận lợi hơn trong việc di chuyển và neo giữ lồng bè.
“Khi có mưa lớn, nước lũ lên chúng tôi sẽ di chuyển lồng vào gần bờ; khi nước rút, tùy điều kiện thực tế sẽ đưa lồng trở lại vị trí phù hợp. Đây là những kinh nghiệm được đúc rút qua nhiều năm, góp phần hạn chế rủi ro do thiên tai, bảo vệ thành quả sản xuất và duy trì hiệu quả của nghề nuôi cá lồng trên sông”, ông Văn khẳng định.
Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/kinh-te/202610/gui-tien-duoi-song-cff20f5/
