Hà Nội chốt 'giá trần' 120 triệu USD cho mỗi ki-lô-mét đường sắt đô thị
120 triệu USD cho mỗi ki-lô-mét đường sắt đô thị (metro) là mức giá trần mà Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội "chốt" để áp dụng cho 5 tuyến metro dài 253,5km; bao gồm: tuyến số 1, số 2, số 8, số 10 và số 14. Thành phố Hà Nội đặt mục tiêu hoàn thành 5 tuyến metro này trong năm 2030.

Quang cảnh phiên họp ngày 4/11 của Kỳ họp thứ bảy Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội. (Ảnh: VĂN TUYẾN-QUANG THÁI)
Sáng 4/11, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã thông qua nghị quyết thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để đầu tư xây dựng 5 tuyến metro dài 253,5km, với tổng mức đầu tư hơn 1 triệu tỷ đồng.
Báo cáo tiếp thu, giải trình trước Hội đồng nhân dân Thành phố, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Trương Việt Dũng nhấn mạnh, việc triển khai đồng thời 5 tuyến đường sắt đô thị vừa đặt ra yêu cầu về tiến độ xây dựng, vừa là bài toán lớn về huy động nguồn lực, quản lý nghĩa vụ tài chính và tổ chức vận hành sau đầu tư.
“Ủy ban nhân dân Thành phố kính đề nghị Hội đồng nhân dân Thành phố xem xét giữ mức trần 120 triệu USD/km, giao nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện cơ sở tính toán, làm rõ phạm vi chi phí và kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện theo hợp đồng; bảo đảm kiểm soát chi phí đầu tư nhưng tuyệt đối không đánh đổi yêu cầu về chất lượng, an toàn và công nghệ của các tuyến đường sắt đô thị”, ông Trương Việt Dũng nói.
Tại báo cáo giải trình số 502/BC-UBND ngày 3/11/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố đã bổ sung một số nội dung theo ý kiến thẩm tra của Ban Đô thị - Hội đồng nhân dân Thành phố về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để đầu tư xây dựng một số tuyến đường sắt đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đối với nội dung về suất đầu tư, Ủy ban nhân dân Thành phố tiếp tục bảo lưu ý kiến đối với việc quy định cụ thể “suất vốn đầu tư” quy định tại Điều 4 (của dự thảo Nghị quyết) về nhà thầu chiến lược và tiêu chí xác định.
Theo Ủy ban nhân dân Thành phố, việc bổ sung suất đầu tư tối đa 120 triệu USD/km là cần thiết và phù hợp ý kiến chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy tại Thông báo số 747-TB/TU ngày 28/9/2026 và số liệu báo cáo của Đảng ủy Ủy ban nhân dân Thành phố tại Tờ trình số 853-TTr/ĐU ngày 14/10/2026.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Trương Việt Dũng giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố. (Ảnh: VĂN TUYẾN-QUANG THÁI)
Cơ sở xác định suất vốn đầu tư được lập theo Đề án tổng thể đầu tư xây dựng hệ thống đường sắt đô thị Thủ đô đã được Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thống nhất về chủ trương tại Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 2/7/2024 và được Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố thống nhất về chủ trương tại Kết luận số 174-KL/TU ngày 4/12/2024. Bộ Chính trị cũng đã thông qua đề án cuối tháng 12/2024. Cơ sở xác định suất vốn đầu tư đã được tham khảo dữ liệu chi phí của các dự án tương tự đã thực hiện.
Sau khi so sánh, đánh giá, suất vốn đầu tư 120 triệu USD/km thấp hơn suất đầu tư tại Quyết định phê duyệt số 4765/QĐ-UBND ngày 5/9/2026 về phê duyệt nhiệm vụ thực hiện dự án. Suất đầu tư này cũng đã được Liên danh VHM-SGC đề xuất tại văn bản số 0210/CV-SGC ngày 2/10/2026 và được Đảng ủy Ủy ban nhân dân Thành phố báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy tại Tờ trình số 853-TTr/ĐU ngày 14/10/2026.
Bên cạnh đó, suất vốn đầu tư này được kiểm soát tại bước phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi sau khi được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán theo nguyên tắc: trường hợp giá trị theo kết quả kiểm toán của Kiểm toán nhà nước bằng hoặc cao hơn thì giữ nguyên giá trị; trường hợp giá trị xác định theo kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước thấp hơn thì được điều chỉnh theo kết quả Kiểm toán Nhà nước xác định.
Về chính sách đặc thù áp dụng cho 5 tuyến metro, Thành phố xác định đây là chính sách chưa có tiền lệ. Thậm chí với quy mô, tiến độ như đã cam kết của nhà đầu tư thì không chỉ với Việt Nam, mà trên thế giới cũng chưa có tiền lệ.
Cơ sở pháp lý quan trọng để thành phố Hà Nội xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để đầu tư xây dựng một số tuyến đường sắt đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội đó là Luật Thủ đô số 02/2026/QH16; Nghị quyết số 188/2025/QH15 ngày 19/2/2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 258/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô...
Đóng góp ý kiến trước khi nghị quyết được thông qua, đại biểu Trần Thanh Hà đề nghị Thành phố làm rõ các khoản chi để ra được mức giá trần là 120 triệu USD/km metro. “Đây là vấn đề rất quan trọng. Nếu chỉ kiểm soát mức giá trong trường hợp chưa tính đầy đủ các khoản chi khác thì chưa thể biết chính xác Thành phố sẽ phải bỏ ra bao nhiêu tiền để hoàn thành công trình này”, đại biểu Trần Thanh Hà nói.
Trung tướng Nguyễn Thanh Tùng, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội cũng băn khoăn với mức giá trần 120 triệu USD/km metro. Theo ông, nếu quá trình thi công dự án có thể “nhích” số tiền lên hơn 120 triệu USD/km thì cần phải có cơ chế điều chỉnh cho phù hợp. Bởi nếu tính tổng số tiền tăng lên cho cả 5 dự án đường sắt đô thị là rất lớn.
Giải trình, làm rõ về các vấn đề đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố quan tâm, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Trương Việt Dũng nêu, từng hạng mục thực hiện 5 dự án đường sắt đô thị để ra giá trần 120 triệu USD/km.
“Nếu vượt quá 120 triệu USD/km thì nhà thầu phải chịu, Thành phố không bỏ thêm tiền”, ông Trương Việt Dũng khẳng định.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng phát biểu tại kỳ họp. (Ảnh: VĂN TUYẾN-QUANG THÁI)
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng cho biết, mức giá trên là cơ sở quan trọng để đàm phán lựa chọn nhà thầu chiến lược, dự toán tổng mức đầu tư và kiểm soát giá trị hợp đồng, trách nhiệm của nhà thầu.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khẳng định: “Như Thành phố đã báo cáo, mức giá 120 triệu USD/km là tối đa, không có chuyện trượt giá, không có chuyện phát sinh”.
Trong quá trình thực hiện, Thành phố sẽ tiếp tục rà soát và kiểm soát chi phí trên cơ sở thiết kế, tổng mức đầu tư, kiểm toán và các điều kiện hợp đồng để bảo đảm không vượt quá mức giá đã khống chế.
