Hà Nội làm rõ ký hiệu 'T' trên sổ đỏ, liên quan trực tiếp quyền lợi người dân
Cử tri xã Quốc Oai (Hà Nội) kiến nghị UBND Thành phố xem xét thống nhất cách giải thích và quy định rõ về phân loại đất chữ 'T' trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) của nhân dân.
Theo phản ánh của cử tri, khi được cấp sổ đỏ, nhiều hộ dân được giải thích ký hiệu "T" là đất thổ cư. Tuy nhiên, hiện nay khi người dân thực hiện đổi sổ, tách thửa... lại giải thích chữ “T” là đất trồng trọt.
Trả lời kiến nghị, UBND TP Hà Nội cho biết, theo Quyết định số 56-ĐKTK ngày 5/11/1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành bản quy định về thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước thì loại ruộng đất ghi trong sổ đăng ký ruộng đất và sổ muc kê thể hiện bằng ký hiệu theo quy định tại bản tổng hợp thống kê ruộng đất.
Loại đất có ký hiệu chữ "T" của bản tổng hợp thống kê ruộng đất ban hành kèm theo quyết định trên được xác định là "đất khu vực thổ cư”. Khái niệm này bao gồm đất xây dựng trong các khu dân cư đô thị và nông thôn, ngoại trừ đất thổ canh, ao hồ và đường đi lại trong thôn xóm đã đo đạc tách ra.
Phạm vi đất thổ cư thời điểm đó bao gồm đất ở và và đất xây dựng các công trình phục vụ lợi ích toàn dân trong các lĩnh vực văn hóa, y tế giáo dục, thể dục thể thao, nghỉ mát, du lịch; các trụ sở cơ quan, đoàn thể, tôn giáo, những kho tàng, cơ sở nông lâm nghiệp như chuồng trại chăn nuôi, trạm sửa chữa...
Từ ngày 12/10/1999, biểu thống kê diện tích đất đai được quy định lại theo Quyết định số 237/QĐ-LB (ngày 3/8/1989) của Liên Tổng cục Quản lý ruộng đất và Tổng cục Thống kê. Trong đó, loại "Đất khu vực thổ cư" trước đây đã được quy định tách thành các loại "đất khu dân cư" (gồm đất ở thành thị và đất ở nông thôn) và "đất chuyên dùng" (gồm đất xây dựng, đất đường giao thông, đất thủy lợi...) được quy định mã ký hiệu phục vụ thống kê, kiểm kê đất.
Đến năm 1995, Tổng cục Địa chính ban hành Quyết định số 499/QĐ-ĐC quy định mẫu sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ theo dõi biến động đất đai. Trong đó, quy định loại đất với "mục đích để ở" ký hiệu bằng chữ "T", từng loại công trình có ký hiệu riêng.

Cử tri kiến nghị xem xét thống nhất cách giải thích và quy định rõ về phân loại đất chữ “T” trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Ảnh minh họa: Hồng Khanh
UBND TP Hà Nội cũng cho biết, đối với ký hiệu loại đất “T” khi thực hiện Luật Đất đai năm 1993, Quyết định số 499/QĐ-ĐC của Tổng cục Địa chính thì loại đất “T” được xác định “mục đích để ở”.
Tuy nhiên chưa có kết luận cụ thể nội dung ký hiệu loại đất (chữ “T”) trên các giấy chứng nhận đã cấp có phải toàn bộ đất ở hay không.
Để tháo gỡ, ngày 31/1/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 49/2026 hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội.
Tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026 đã quy định việc giải quyết đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trước ngày 1/7/2004 không thuộc trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 141 của Luật Đất đai và chưa xác định cụ thể diện tích đất ở mà được thể hiện chung đất ở với đất khác, ví dụ như “thổ cư”, “thổ tập trung”, “làm nhà ở”, “đất ở + vườn”, “T”, “TV”, “TQ”, “TTT”.
Từ thực tế trên, UBND TP Hà Nội đề nghị người dân căn cứ hồ sơ, giấy tờ sử dụng đất, quá trình quản lý, sử dụng đất để xác định diện tích đất ở cụ thể trên giấy chứng nhận đã cấp.
Khi người sử dụng đất thực hiện các thủ tục đăng ký biến động đất đai như cấp đổi sổ đỏ, tách thửa hoặc chuyển nhượng, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm thực hiện đồng thời việc xác định diện tích đất ở cụ thể.
Trong trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu xác định riêng phần diện tích đất ở thì thực hiện theo trình tự, thủ xác định diện tích đất ở.
Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026 quy định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) đã cấp trước ngày 1/7/2004 không thuộc trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 141 của Luật Đất đai và chưa xác định cụ thể diện tích đất ở mà được thể hiện chung đất ở với đất khác, ví dụ như “thổ cư”, “thổ tập trung”, “làm nhà ở”, “đất ở + vườn”, “T”, “TV”, “TQ”, “TTT” thì giải quyết như sau:
UBND cấp tỉnh căn cứ quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ, quá trình quản lý, sử dụng đất và điều kiện thực tế ở địa phương để quy định việc xác định diện tích đất ở, quy định các trường hợp khác chưa xác định cụ thể diện tích đất ở trên giấy chứng nhận đã cấp để áp dụng quy định.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại khoản này đã được xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận hoặc trường hợp người nhận chuyển quyền sử dụng toàn bộ thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận mới từ ngày 1/7/2004 trở về sau nhưng trên giấy chứng nhận chưa xác định cụ thể diện tích đất ở thì thực hiện xác định diện tích đất ở theo quy định.
Cụ thể, trường hợp sổ đỏ đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân trước ngày 1/8/2024 mà ghi thời hạn sử dụng đất nông nghiệp là lâu dài hoặc không thể hiện thời hạn sử dụng đất thì khi thực hiện đăng ký biến động đất đai, thời hạn sử dụng đất được xác định lại là 50 năm kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận đã cấp hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp người nhận chuyển quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận mới và được xác định cụ thể diện tích đất ở trên giấy chứng nhận thì không xác định diện tích đất ở theo quy định tại khoản này.
Khi người sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai thì cơ quan có thẩm quyền cấp sổ đỏ có trách nhiệm thực hiện đồng thời việc xác định diện tích đất ở quy định tại khoản này. Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu thực hiện riêng thủ tục xác định diện tích đất ở thì thực hiện theo trình tự, thủ tục do UBND cấp tỉnh quy định.












