Hà Nội tìm lời giải cho bài toán bãi đỗ xe và hạ tầng sạc điện
Hà Nội đang đối mặt với tình trạng thiếu nghiêm trọng diện tích giao thông tĩnh, trong khi quá trình điện hóa phương tiện đặt ra yêu cầu mới về hạ tầng sạc. Mô hình bãi đỗ xe thông minh kết hợp trạm sạc, điện mặt trời và lưu trữ năng lượng được đề xuất nhằm giải quyết đồng thời bài toán giao thông và năng lượng.
Ngày 26/9/2026, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo khoa học “Cơ sở pháp lý, thực trạng và triển vọng phát triển bãi đỗ xe thông minh tích hợp trạm sạc điện tại Hà Nội với tầm nhìn 100 năm”. Hội thảo do Viện Hỗ trợ Pháp lý và Bảo vệ Môi trường phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức.

Các đại biểu tham dự hội thảo.
Tham dự hội thảo có ông Nguyễn Hồng Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng; ông Phan Xuân Dũng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; đại diện Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương cùng một số doanh nghiệp.
Hà Nội thiếu quỹ đất dành cho giao thông tĩnh
Theo thống kê, dân số Hà Nội hiện đã vượt mốc 8 triệu người, chưa tính khoảng 1,2 triệu người thường xuyên lưu trú, trong khi số phương tiện giao thông đường bộ lên tới khoảng 8 triệu xe và khoảng 1,2 triệu phương tiện từ các tỉnh, thành khác hoạt động thường xuyên. Tốc độ tăng trưởng ô tô bình quân được nêu ở mức trên 10%/năm.
Trong khi đó, diện tích đất dành cho giao thông mới chiếm khoảng 10,35% đất xây dựng đô thị. Riêng đất dành cho giao thông tĩnh và bãi đỗ xe công cộng chưa đạt 1%, trong khi quy chuẩn yêu cầu khoảng 3-4%. Hệ thống hiện có mới đáp ứng khoảng 8-10% nhu cầu đỗ xe, khiến phần lớn phương tiện phải tận dụng các bãi đất trống, đất dự án chậm triển khai, vỉa hè, lòng đường và không gian công cộng.

TS. Bùi Hồng Cường, Viện trưởng Viện Hỗ trợ Pháp lý và Bảo vệ Môi trường phát biểu tại hội thảo.
Theo Quyết định 1218/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội, thành phố quy hoạch 1.620 điểm đỗ xe công cộng nhưng đến nay mới có 57 bãi đưa vào khai thác và 66 điểm đang triển khai đầu tư.
Cùng với bài toán giao thông tĩnh, xu hướng chuyển đổi sang phương tiện điện nhằm thực hiện mục tiêu Net Zero vào năm 2050 cũng đặt ra yêu cầu về hệ thống hạ tầng sạc công cộng đồng bộ, an toàn. Việc thiếu các bãi đỗ quy mô lớn kết hợp hạ tầng sạc có thể tạo áp lực lên hệ thống điện tại những khu vực tập trung phương tiện.
Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Bùi Hồng Cường, Viện trưởng Viện Hỗ trợ Pháp lý và Bảo vệ Môi trường, cho rằng Hà Nội đang phát triển theo định hướng đô thị xanh, thông minh và bền vững, song áp lực từ giao thông tĩnh và quá trình chuyển đổi sang phương tiện điện đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với hạ tầng.
Theo TS. Bùi Hồng Cường, để giải quyết bài toán này cần cơ sở pháp lý, đánh giá toàn diện thực trạng quy hoạch và tầm nhìn chiến lược 100 năm cho hệ thống giao thông tĩnh kết hợp trạm sạc năng lượng xanh.
Đề xuất mô hình bãi đỗ xe thông minh kết hợp trạm sạc
Một trong những giải pháp được đưa ra tại hội thảo là mô hình “3 trong 1”, gồm bãi đỗ xe thông minh, trạm sạc xe điện và điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng.
Dự án Trung tâm đỗ xe thông minh và Dịch vụ chăm sóc xe Công nghệ số Thuận An tại ô đất C11.P5, đường Vũ Đức Thận, Hà Nội được giới thiệu như một ví dụ. Dự án dự kiến sử dụng kết cấu thép lắp ghép từ 3-6 tầng nổi kết hợp tầng hầm, các trụ sạc nhanh DC công suất 120-180 kW và điểm sạc AC 7-22 kW.

Ông Phạm Xuân Dũng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phát biểu tại hội thảo.
Hệ thống điện mặt trời có thể được bố trí trên mái bãi đỗ. Với diện tích mái khoảng 250 m² và công suất 50 kW, hệ thống được tính toán có thể tạo ra khoảng 63.000 kWh/năm. Kết hợp với hệ thống lưu trữ, điện mặt trời có thể hỗ trợ điều tiết phụ tải khi nhiều phương tiện sạc cùng lúc.
Theo phương án được giới thiệu, dự án cũng ứng dụng công nghệ nhận diện biển số tự động bằng AI và hệ thống iParking; bố trí cổng vào, cổng ra tách biệt và khu vực chờ nhằm nâng cao khả năng lưu thông phương tiện.
Hạ tầng sạc phải tính đến khả năng cấp điện và an toàn
Theo ước tính của Bộ Công Thương, đến cuối năm 2025, điện năng dành cho giao thông đường bộ khoảng 652 triệu kWh, tương đương 0,2-0,3% tổng điện thương phẩm.
Tuy nhiên, nếu số lượng ô tô điện đạt khoảng 1–1,6 triệu xe và xe máy điện đạt 8–13 triệu xe vào năm 2030, nhu cầu điện cho giao thông đường bộ có thể tăng lên khoảng 3,1–5,6 tỷ kWh mỗi năm, tương đương khoảng 0,68–1,1% tổng điện thương phẩm.
Bộ Công Thương lưu ý thách thức không chỉ nằm ở tổng sản lượng điện mà còn ở công suất cực đại và sự tập trung phụ tải theo thời gian, địa điểm và sạc. Khi nhiều xe cùng sạc nhanh, bãi đỗ có thể phát sinh nhu cầu lớn về máy biến áp, cáp điện, thiết bị bảo vệ và năng lực đấu nối.

Ông Phạm Ngọc Hoàn, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Dầu khí Bách Khoa, cho rằng khi lựa chọn địa điểm cần khảo sát lưu lượng xe, thời gian lưu xe và khả năng cấp điện. Mái bãi đỗ có thể lắp điện mặt trời phục vụ một phần nhu cầu ban ngày, trong khi pin lưu trữ hỗ trợ điều tiết điện khi nhiều xe sạc, nhưng hiệu quả cần được tính toán riêng cho từng địa điểm.
Bên cạnh năng lượng, yêu cầu phòng cháy, chữa cháy đối với khu vực sạc xe điện cũng được đề cập. Phương án được giới thiệu gồm phân vùng khoảng cách an toàn, camera nhiệt AI, thiết bị chữa cháy chuyên dụng và hệ thống thông gió cưỡng bức cho khu vực kín.
Cần hoàn thiện hành lang pháp lý trước khi mở rộng
Bà Phạm Thị Minh Trinh, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Thuận An Holding, cho rằng một khu đất thuận tiện để đỗ xe chưa chắc phù hợp để đặt trạm sạc nhanh. Nhà đầu tư phải đồng thời tính toán đường xe ra vào, công suất điện khi nhiều xe cùng sạc và phương án phòng cháy, chữa cháy.

Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU) chiến lược giữa Viện Hỗ trợ pháp lý và Bảo vệ môi trường với các tập đoàn, doanh nghiệp uy tín trong lĩnh vực năng lượng, công nghệ và truyền thông trong khuôn khổ sự kiện.
Theo bà Trinh, trước khi chốt thiết kế và tổng mức đầu tư dự án cần làm rõ ranh giới, chỉ tiêu sử dụng đất, lối tiếp cận giao thông, khả năng cấp điện và yêu cầu an toàn. Giao thông tĩnh phải là chức năng chính; trạm sạc, năng lượng và dịch vụ phụ trợ chỉ tích hợp khi phù hợp với quy hoạch, mục đích sử dụng đất, môi trường và hiệu quả đầu tư.
Công ty Cổ phần Dầu khí Bách Khoa đề xuất có đầu mối điều phối hồ sơ, xây dựng bản đồ số kết hợp thông tin về quỹ đất bãi đỗ với khả năng cấp điện và hướng dẫn kỹ thuật cho loại hình công trình tích hợp.
Doanh nghiệp cũng kiến nghị thí điểm mô hình trong 12-18 tháng tại các địa điểm có đặc điểm khác nhau. Trong quá trình vận hành cần theo dõi nhu cầu đỗ, nhu cầu sạc, công suất cực đại, sản lượng điện mặt trời và các sự cố an toàn để đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.
Về dài hạn, TSKH. Phan Xuân Dũng nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, cho rằng công nghệ sạc và quản lý bãi xe sẽ tiếp tục thay đổi, do đó cần triển khai theo từng bước 5 năm, 10 năm hướng tới tầm nhìn dài hạn.
Từ góc độ quy hoạch, các ý kiến tại hội thảo cho rằng tầm nhìn 100 năm không có nghĩa cố định một công nghệ trong suốt một thế kỷ. Điều cần bảo đảm lâu dài là quỹ đất, cấu trúc hạ tầng và khả năng mở rộng, trong khi thiết bị cần được thiết kế theo hướng mô-đun, có thể thay thế và nâng cấp khi công nghệ thay đổi.



