Hạ tầng Việt Nam cần được nhìn như một hệ sinh thái tài sản
Hạ tầng có thể mở ra nhiều dòng tiền mới nhưng để thu hút vốn dài hạn cần tách cấu phần, phân bổ rủi ro và kết nối nhiều nguồn vốn.
Một tuyến đường cao tốc, sân bay hay đường sắt tốc độ cao không dừng lại ở phần hạ tầng được xây dựng. Khi hình thành, mỗi công trình còn kéo theo logistics, dịch vụ, thương mại, đô thị và nhiều hoạt động kinh tế khác, từ đó tạo ra những dòng tiền và giá trị mới.

Các chuyên gia cho rằng để thu hút vốn dài hạn cần tách cấu phần, phân bổ rủi ro và kết nối nhiều nguồn vốn. Ảnh: HT
Tại Hội nghị đầu tư Techcombank 2026, các chuyên gia cho rằng cách nhìn về đầu tư hạ tầng cũng cần thay đổi theo hướng này.
Thay vì xem mỗi dự án như một công trình riêng lẻ với một nguồn vốn riêng, hạ tầng có thể được phát triển thành một hệ sinh thái tài sản. Trong đó, Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp tư nhân và các nhà đầu tư dài hạn phù hợp với vai trò của mình.
Từ một công trình đến nhiều dòng tiền
Một dự án hạ tầng trước hết cần vốn để xây dựng. Nhưng khi đi vào vận hành, công trình còn kéo theo nhiều hoạt động kinh tế khác, tạo thêm doanh thu và cơ hội thu hút vốn.
Ông Nguyễn Anh Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính, Bộ Xây dựng, cho biết các dự án như cao tốc, cảng hàng không lớn, đường sắt tốc độ cao hay đường sắt đô thị sẽ đi cùng tổ hợp dịch vụ gồm logistics, dịch vụ mặt đất, trung tâm thương mại và phát triển theo định hướng TOD.
Theo ông, cần tách phần hạ tầng chính khỏi các công trình dịch vụ, thương mại đi kèm. Nhà nước có thể đầu tư hoặc hỗ trợ hạ tầng cốt lõi, trong khi các cấu phần có khả năng sinh lời phù hợp hơn với khu vực tư nhân.
Cách tiếp cận này cho phép phân bổ vốn theo từng cấu phần. Phần hạ tầng có tác động lớn tới kinh tế, xã hội nhưng khả năng hoàn vốn thấp có thể cần vốn công. Ngược lại, các cấu phần tạo doanh thu có thể trở thành tài sản thu hút vốn tư nhân.
Ông Dũng cho rằng với các dự án hạ tầng chiến lược, quan trọng quốc gia, có tác động lan tỏa nhưng khả năng thu hồi vốn không cao, Nhà nước sẽ đầu tư, kết hợp với ODA và vốn vay ưu đãi quốc tế. Khu vực tư nhân phù hợp hơn với những dự án có khả năng vận hành, khai thác dịch vụ và hoàn vốn tốt.

Khi quy mô đầu tư hạ tầng tăng lên, ngân hàng khó có thể gánh toàn bộ nhu cầu vốn. Ảnh: HA
Đồng tình với cách tiếp cận này, bà Jing Zhao, Chuyên gia cao cấp lĩnh vực tài chính của Ngân hàng Thế giới, cho rằng dự án hạ tầng có thể chia thành ba nhóm: sử dụng tài chính công; do tư nhân tài trợ và có thể huy động vốn tư nhân nếu được hỗ trợ bởi một phần tài chính công ưu đãi. Với nhóm thứ ba, vốn công có thể đóng vai trò kích hoạt vốn tư nhân.
Bài toán nguồn vốn cho chu kỳ hạ tầng
Khi nhu cầu vốn hạ tầng tăng, giới hạn của nguồn vốn ngân hàng cũng rõ ràng hơn. Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước, chỉ ra vốn huy động của ngân hàng thương mại chủ yếu là ngắn hạn, trong khi hạ tầng cần vốn lớn và thời gian thu hồi dài.
“Vốn tín dụng ngân hàng không phải là duy nhất, mà chúng ta cần huy động nguồn lực rất đa dạng”, ông Bắc nói, đồng thời đề cập tới ngân sách Nhà nước, vốn ngân hàng, ODA, vốn vay các tổ chức quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài.
Nếu nhu cầu vốn dài hạn tiếp tục tập trung vào ngân hàng, sự lệch pha về kỳ hạn sẽ trở thành “sợi dây ràng buộc”. Vì vậy, ngân hàng có thể chuyển từ cấp tín dụng sang kết nối và thu xếp nhiều nguồn vốn cho từng cấu phần dự án.
Theo đó, bà Nguyễn Thu Lan, Phó Chủ tịch HĐQT Techcombank, cho rằng quy mô các dự án hạ tầng trong 5 năm tới rất lớn và “không một nguồn vốn hay tổ chức nào có thể gánh vác hết được”.
Theo bà, cần kết hợp các nguồn vốn, hình thức tài trợ, đối tượng cung cấp vốn và thời gian nhàn rỗi của từng nguồn. Techcombank vì vậy đang chuẩn bị để trở thành “nhà thu xếp vốn trung gian”, kết nối dòng vốn phù hợp về thời gian và chi phí với chủ đầu tư hạ tầng.

Bà Nguyễn Thu Lan cho rằng quy mô các dự án hạ tầng trong 5 năm tới rất lớn. Ảnh: HT
Ở góc độ quốc tế, bà Jing Zhao cho rằng hai vấn đề quan trọng hàng đầu chính là “đa dạng hóa” và “huy động nguồn lực”. Quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm vì thế có thể trở thành nguồn vốn dài hạn phù hợp với hạ tầng.
World Bank cũng đề cập các công cụ như nâng cao uy tín tín dụng cho trái phiếu hạ tầng và mô hình “originate to distribute”, theo đó khoản vay ngân hàng có thể được đóng gói, chứng khoán hóa và bán cho nhà đầu tư tổ chức. Cách này giúp ngân hàng giải phóng một phần bảng cân đối để tiếp tục tài trợ dự án mới.
Khi quy mô đầu tư hạ tầng tăng lên, ngân hàng khó có thể gánh toàn bộ nhu cầu vốn. Vai trò của ngân hàng vì thế dần mở rộng từ cấp tín dụng sang thiết kế, thu xếp và phân phối dòng vốn, kết nối nhu cầu vốn dài hạn với nhiều nguồn lực trên thị trường.
Biến hạ tầng thành tài sản gọi vốn
Tuy nhiên, chia dự án thành nhiều cấu phần và kết nối nhiều nguồn vốn mới chỉ giải quyết một phần bài toán. Để hạ tầng thực sự trở thành tài sản có thể thu hút vốn, dự án cần có tính khả thi, rủi ro chấp nhận được và cơ chế phân bổ lợi ích hợp lý.
Ông Nguyễn Xuân Bắc cho rằng đây là điều quan trọng để thu hút vốn ngân hàng cả trong và ngoài nước. Đặc thù của hạ tầng là hiệu quả kinh tế, xã hội có thể rất lớn, trong khi khả năng hoàn vốn trực tiếp chưa chắc tương xứng.
Một tuyến đường có thể mở rộng giao thương, tạo không gian phát triển mới và gia tăng giá trị đất nhưng những lợi ích này không tự động chuyển thành dòng tiền cho nhà đầu tư.
Theo ông Bắc, chính sách cần chia sẻ được phần lợi ích gia tăng mà dự án tạo ra để khuyến khích nhà đầu tư và bù đắp rủi ro, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
“Chính sách cần chia sẻ được phần lợi ích gia tăng mà dự án tạo ra để khuyến khích nhà đầu tư và bù đắp rủi ro.”
Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước
Điều này cũng quyết định khả năng huy động vốn tư nhân. Một dự án có hiệu quả kinh tế, xã hội cao nhưng dòng tiền không rõ ràng sẽ khó trở thành tài sản đầu tư hấp dẫn. Khi các cấu phần tạo doanh thu được xác định rõ, chúng có thể được thiết kế phù hợp với từng nhóm nhà đầu tư.
Techcombank cho biết với các dự án tư nhân có dòng tiền dài hạn, ngân hàng đang cấu trúc vốn theo từng giai đoạn.
Giai đoạn đầu sử dụng nguồn vốn ngắn và trung hạn để triển khai dự án, sau đó trong 2 - 3 năm tiếp theo thu xếp nguồn vốn dài hạn hơn từ quốc tế với sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý và các tổ chức như World Bank, IFC.
Với các dự án đầu tư công, ngân hàng muốn tham gia tư vấn tài chính và thu xếp phát hành trái phiếu chính quyền địa phương hoặc trái phiếu Chính phủ để huy động vốn dài hạn trong và ngoài nước.
Cách tiếp cận này cho thấy công trình có thể trở thành điểm khởi đầu cho một chuỗi tài sản, dịch vụ và dòng tiền, trong đó mỗi cấu phần được kết nối với nguồn vốn phù hợp.



