Hài hòa tăng trưởng và bảo tồn - bài toán của du lịch vùng cao

Khi thị trường mở rộng, lượng khách tăng và du lịch tạo ra nhiều lợi ích kinh tế hơn, một câu hỏi khác lập tức xuất hiện: phát triển tới đâu để những giá trị đã đưa du khách đến vùng cao vẫn còn nguyên sức sống?

Khi thị trường mở rộng, lượng khách tăng và du lịch tạo ra nhiều lợi ích kinh tế hơn, một câu hỏi khác lập tức xuất hiện: phát triển tới đâu để những giá trị đã đưa du khách đến vùng cao vẫn còn nguyên sức sống?

Với miền núi, tài nguyên quan trọng nhiều khi cũng là phần dễ bị tổn thương nhất - cảnh quan, không gian bản làng, kiến trúc truyền thống và đời sống văn hóa của cộng đồng. Hài hòa tăng trưởng với bảo tồn vì thế là bài toán tổ chức phát triển sao cho lợi ích kinh tế tạo thêm nguồn lực để gìn giữ tài nguyên, còn tài nguyên được gìn giữ tiếp tục duy trì sức cạnh tranh của điểm đến.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị đặt yêu cầu chuyển mạnh mô hình du lịch từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo; lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh. Nghị quyết đồng thời yêu cầu gắn phát triển với quy hoạch không gian, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và quản trị điểm đến dựa trên nhiều chỉ tiêu như tổng thu, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, chất lượng, an toàn, môi trường, chuyển đổi số và mức độ hài lòng của du khách.

Khi sức hút của điểm đến trở thành một áp lực mới

Tăng trưởng du lịch trước hết là tín hiệu tích cực. Khách đến đông hơn tạo thêm thị trường, mở cơ hội việc làm và thúc đẩy đầu tư dịch vụ. Nhưng bà Nguyễn Thị Hồng Liễu, Giám đốc Hợp tác xã Dược liệu Xuân Ý, cán bộ Trường Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang, cho rằng tốc độ tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi chất lượng sản phẩm, năng lực quản lý và khả năng bảo vệ tài nguyên theo kịp.

Bà lưu ý: “Nếu tăng trưởng quá nhanh nhưng chất lượng sản phẩm, năng lực quản lý và khả năng bảo vệ tài nguyên không theo kịp, sự phát triển có thể thiếu bền vững”.

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

Chợ Phong lưu Khau Vai, còn gọi là "Chợ tình Khau Vai" có từ năm 1919, được họp duy nhất 1 lần trong năm vào ngày 27/3 âm lịch hàng năm luôn thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương tham dự. Ảnh: TTXVN

Nhận định này đặc biệt đáng lưu ý với vùng cao. Một con đường đẹp có thể quá tải khi lượng phương tiện tăng nhanh; một bản làng yên tĩnh có thể thay đổi nhịp sống khi dịch vụ phát triển dày đặc; kiến trúc truyền thống và tập quán văn hóa cũng có nguy cơ bị điều chỉnh theo nhu cầu kinh doanh ngắn hạn.

Bởi vậy, câu hỏi không nên dừng ở việc đón thêm được bao nhiêu khách. Điểm đến còn phải tự hỏi liệu hạ tầng, môi trường, dịch vụ và cộng đồng có đủ khả năng tiếp nhận lượng khách ấy mà vẫn bảo đảm chất lượng trải nghiệm hay không? Tăng trưởng cao trong thời gian ngắn có thể tạo doanh thu, nhưng nếu kéo theo rác thải, ùn tắc, áp lực nước sạch, xây dựng thiếu kiểm soát hoặc sự đồng nhất hóa kiến trúc, chi phí khắc phục về sau có thể lớn hơn lợi ích trước mắt.

Tăng trưởng cao trong thời gian ngắn có thể tạo doanh thu, nhưng nếu kéo theo rác thải, ùn tắc, áp lực nước sạch, xây dựng thiếu kiểm soát hoặc sự đồng nhất hóa kiến trúc, chi phí khắc phục về sau có thể lớn hơn lợi ích trước mắt.

Đây là lý do Nghị quyết 26 đặt quản trị điểm đến trong mối quan hệ với quy hoạch, môi trường và năng lực phát triển. Lượng khách chỉ là một chỉ số; tổng thu, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, an toàn, chất lượng điểm đến và sự hài lòng mới phản ánh rõ hơn chất lượng tăng trưởng.

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

Mỗi độ cuối thu, những triền núi trên Cao nguyên đá Đồng Văn lại dịu dàng trong sắc trắng, hồng của hoa tam giác mạch. Những cánh đồng hoa bên núi rừng, bản làng tạo nên không gian trải nghiệm hấp dẫn, góp phần quảng bá cảnh quan, văn hóa và con người Tuyên Quang đến du khách trong nước, quốc tế. Ảnh: TTXVN

Bảo tồn những “di sản sống”

Bài toán phức tạp hơn khi tài nguyên cần bảo tồn không nằm sau tủ kính mà tồn tại trong đời sống hàng ngày. Trong một bản làng vùng cao, nhà ở, phương thức canh tác, nghề thủ công, trang phục, ẩm thực, phong tục và tri thức địa phương cùng hiện diện trong một không gian sống. Vì vậy, bảo tồn không thể được hiểu là giữ nguyên mọi thứ như tại một thời điểm cố định.

Bà Hoàng Hảo, chuyên gia Hội đồng Xây dựng và Bảo tồn Văn hóa bản địa - Viện Phát triển Du lịch châu Á, nhấn mạnh: “Du lịch xanh và du lịch bền vững cần có sự hiện diện, tham gia và hưởng lợi của con người. Khi người dân còn sống trong không gian di sản, tiếp tục thực hành văn hóa và có sinh kế từ việc bảo tồn, nơi đó mới thực sự có sức sống và tạo được nền tảng phát triển lâu dài”.

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

Với nhiều vùng khí hậu, ở các độ cao khác nhau nên Tuyên Quang có nhiều mùa hoa, vùng hoa hấp dẫn. Du khách tới với vùng cao nguyên đá thời điểm này sẽ đắm chìm trong sắc vàng rực của mùa hoa cải trên khắp sườn đồi. Những cánh đồng hoa cải rộng mênh mông không chỉ để ngắm mà còn làm dịu đi sự khô cằn, lạnh lẽo của những dãy núi đá bao quanh. Ảnh: TTXVN

Quan điểm này gợi ra cách tiếp cận khác với bảo tồn: nhà trình tường có cơ hội được gìn giữ khi gia đình thấy việc giữ nhà vẫn phù hợp với cuộc sống; nghề thủ công có khả năng tồn tại khi sản phẩm có thị trường; phương thức canh tác bản địa bền hơn khi vừa phục vụ sản xuất vừa có thể tham gia vào trải nghiệm du lịch. Khi ấy, bảo tồn không đứng bên ngoài kinh tế. Thu nhập từ du lịch có thể giúp duy trì kiến trúc, nghề nghiệp và tập quán; những giá trị được gìn giữ lại tạo nên sự khác biệt cho điểm đến.

Tuy vậy, ranh giới giữa phát huy giá trị và thương mại hóa quá mức, rất mong manh. Một nghi lễ nếu được tổ chức theo lịch của đoàn khách quá thường xuyên có thể dần thay đổi chức năng đối với cộng đồng. Kiến trúc truyền thống nếu bị sửa đổi chủ yếu để tăng số phòng lưu trú có thể mất đi cấu trúc ban đầu. Khi bản làng dần vận hành như một không gian dịch vụ, cư dân có thể phải điều chỉnh nhịp sống theo khách thay vì duy trì đời sống của chính mình.

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

Nhiều sản phẩm OCOP đã trở thành biểu tượng thương hiệu nông sản Tuyên Quang, đặc biệt là sản phẩm như chè Shan tuyết, mật ong bạc hà, cam sành, thịt bò vàng hay hồng không hạt. Ảnh: TTXVN

Ai quyết định giới hạn của sự thay đổi?

Đây là vấn đề bà Hoàng Hảo đặc biệt trăn trở khi nói về các dự án bảo tồn gắn với du lịch. Bà chia sẻ: “Vấn đề chúng tôi luôn trăn trở là làm thế nào để người dân có thể hưởng lợi từ du lịch mà bản làng vẫn giữ được nhịp sống bình yên; sinh hoạt thường ngày và đời sống văn hóa không bị biến đổi bởi sự xuất hiện của khách du lịch”.

Câu hỏi ấy dẫn tới một vấn đề cốt lõi: ai là người có quyền quyết định mức độ thay đổi của một điểm đến?

Bà Lưu Thị Hòa, Giám đốc Hợp tác xã Po Mỷ, Đồng Văn, Tuyên Quang, cho rằng phát triển du lịch bền vững phải đặt văn hóa và yếu tố “xanh” ở vị trí trung tâm. Theo bà, nếu khai thác quá nhanh hoặc nóng vội, tác động từ bên ngoài có thể ảnh hưởng tới môi trường, cảnh quan và nhịp sống của cư dân. Quan trọng hơn, cộng đồng cần được tham gia quyết định khu vực mình sinh sống sẽ tiếp nhận du khách theo cách nào, lựa chọn mức độ bảo tồn và đổi mới ra sao.

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

Giữa những triền đá xám trập trùng của Cao nguyên đá Đồng Văn, nơi lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới trên đỉnh Cột cờ, Lũng Cú hiện lên vừa hùng vĩ vừa thiêng liêng. Bình minh nơi địa đầu Tổ quốc bắt đầu bằng tiếng gà gáy vọng từ các bản làng, tiếng cười nói rộn rã của du khách hòa cùng âm thanh lao động nơi nương rẫy. Vùng đất này không chỉ là điểm cực Bắc trên bản đồ Việt Nam mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, khát vọng vươn lên của đồng bào các dân tộc. Ảnh: TTXVN

Người dân vì thế không thể chỉ được xem như nguồn lao động cho hoạt động du lịch. Họ là chủ thể của không gian sống và văn hóa, đồng thời là nhóm chịu tác động trực tiếp nhất từ tăng trưởng. Sự đồng thuận của cộng đồng giúp xác định những giới hạn mà các chỉ tiêu kinh tế khó phản ánh: nơi nào có thể mở thêm dịch vụ, không gian nào cần giữ cho sinh hoạt thường ngày, hoạt động văn hóa nào có thể giới thiệu với khách và hoạt động nào cần được duy trì chủ yếu cho chính cộng đồng.

Nếu doanh thu tăng nhưng lợi ích tập trung ở một nhóm nhỏ, trong khi phần còn lại của cộng đồng chịu áp lực giao thông, rác thải hay giá sinh hoạt tăng, sự đồng thuận khó bền vững. Khi nhiều hộ có cơ hội tham gia chuỗi dịch vụ và sản phẩm địa phương có thêm thị trường, động lực gìn giữ tài nguyên sẽ mạnh hơn.

Biến giá trị bảo tồn thành lợi ích kinh tế

Bảo tồn vì vậy không nên được xem như một khoản chi phí phải “gánh” để đổi lấy phát triển du lịch. Trong nhiều trường hợp, chính những gì được gìn giữ là tài sản tạo nên năng lực cạnh tranh của điểm đến. Một ngôi nhà truyền thống tạo nên cảnh quan kiến trúc khác biệt; một nghề dệt tạo ra sản phẩm và câu chuyện; một phương thức canh tác đặc trưng góp phần hình thành cảnh quan nông nghiệp; một chợ phiên hay món ăn tạo thêm lý do để khách ở lại.

Nếu những tài sản ấy bị thay bằng những công trình, dịch vụ và sản phẩm giống nhau ở mọi nơi, điểm đến có thể tăng công suất phục vụ trong ngắn hạn nhưng giảm dần tính khác biệt. Khi đó, lợi thế lớn nhất của vùng cao lại bị chính quá trình phát triển làm suy yếu.

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

Giữa cao nguyên đá Hà Giang, người phụ nữ Mông xã Lùng Tám (Tuyên Quang) vẫn ngày ngày nỗ lực biến kỹ nghệ dệt lanh truyền thống thành các sản phẩm văn hóa đặc sắc, giàu tính ứng dụng. Hình ảnh những người phụ nữ Mông kiên nhẫn bên khung cửi, chăm chút từng sợi vải đã trở thành dấu ấn riêng của làng. Mỗi tấm vải không chỉ thấm đẫm ký ức và bản sắc dân tộc mà còn là nguồn lực quan trọng thúc đẩy du lịch di sản, góp phần đưa tinh hoa văn hóa vùng cao hội nhập và vươn tầm quốc tế. Ảnh: TTXVN

Tư duy bảo tồn vì thế cần được đặt ngay trong mô hình kinh tế. Khi một gia đình thấy việc giữ nhà truyền thống có thể tạo thêm thu nhập, lựa chọn bảo tồn có cơ sở thực tế hơn. Khi nghề thủ công có thị trường, người trẻ có thêm lý do học nghề. Khi sản vật địa phương được đưa vào chuỗi ẩm thực và quà tặng du lịch, người sản xuất có thể nhận thêm phần giá trị từ thị trường khách.

Nghị quyết 26 cũng đặt yêu cầu chuyển hóa giá trị tài nguyên thành nguồn lực phát triển, gắn du lịch với bảo tồn cảnh quan, văn hóa và phát triển các sản phẩm nông nghiệp, sinh thái, xanh, bền vững. Theo cách tiếp cận ấy, bảo tồn và tăng trưởng có thể trở thành hai mắt xích của cùng một vòng tuần hoàn: giá trị được gìn giữ tạo ra sức hút; sức hút tạo thị trường; thị trường tạo sinh kế; sinh kế quay trở lại tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn.

Vòng tuần hoàn này chỉ bền vững khi lợi ích đến được với những người đang gìn giữ tài nguyên. Thu nhập từ du lịch càng gắn với việc giữ cảnh quan, kiến trúc, nghề nghiệp và văn hóa, bảo tồn càng có cơ sở để trở thành lựa chọn lâu dài.

Từ “sức chứa” của cảnh quan đến “sức chứa” của cộng đồng

Một khái niệm cần được nhìn rộng hơn trong phát triển vùng cao là sức chứa của điểm đến. Sức chứa không đơn giản là số người tối đa có thể xuất hiện cùng lúc. Một điểm đến còn có sức chứa về môi trường, dịch vụ và xã hội - văn hóa, tức mức độ thay đổi mà hạ tầng và cộng đồng có thể tiếp nhận mà vẫn duy trì được chất lượng sống.

Một bản nhỏ có thể đáp ứng đủ phòng nghỉ nhưng chưa chắc phù hợp với hàng trăm lượt phương tiện mỗi ngày. Một lễ hội có thể đông khách nhưng nếu nội dung bị điều chỉnh quá mạnh để phục vụ trình diễn, ý nghĩa đối với cộng đồng có thể thay đổi. Một tuyến trekking cũng có thể suy giảm chất lượng nếu lưu lượng vượt khả năng bảo vệ môi trường.

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

Trong nhịp sống hiện đại đang len lỏi đến từng bản làng vùng cao, người Mông ở Lùng Tám vẫn kiên trì giữ lấy nghề truyền thống của cha ông. Những tấm vải lanh được dệt thủ công, những họa tiết được thêu tay hay vẽ sáp ong tỉ mỉ không chỉ tạo nên sản phẩm có giá trị kinh tế mà còn là cách để cộng đồng nơi đây lưu giữ bản sắc văn hóa riêng của mình. Ảnh: TTXVN

Vì vậy, quản trị điểm đến cần tính tới những giới hạn mềm mà số liệu lượng khách khó phản ánh. Cấp quản lý cần biết khu vực nào có thể mở rộng lưu trú, khu vực nào cần hạn chế xây dựng; tiêu chuẩn kiến trúc nào phải duy trì; thời điểm nào cần phân luồng khách; nước thải, rác thải và giao thông phải được xử lý theo quy mô nào; những không gian nào cần được cộng đồng giữ cho đời sống riêng.

Nghị quyết 26 yêu cầu chuyển phương thức quản lý từ hành chính truyền thống sang quản trị đồng bộ và thông minh, dựa trên dữ liệu và đánh giá năng lực phát triển của điểm đến. Với vùng cao, tư duy này đặc biệt quan trọng bởi nhiều điểm đến có không gian nhỏ, hạ tầng hạn chế và tài nguyên văn hóa nhạy cảm trước những thay đổi nhanh.

Quản trị trước khi xuất hiện quá tải

Nhiều vấn đề trở nên khó giải quyết khi thị trường phát triển nhanh hơn quy hoạch và năng lực quản lý: công trình đã xây mới bàn cách giữ kiến trúc, khách tăng mới bổ sung xử lý rác, giao thông quá tải mới tính chuyện phân luồng. Cách phát triển phản ứng như vậy làm tăng chi phí và có thể để lại thay đổi khó đảo ngược.

Bài toán hài hòa tăng trưởng với bảo tồn vì thế cần được giải từ trước, ngay trong quy hoạch và thiết kế sản phẩm. Mỗi dự án, mỗi mô hình cần trả lời sớm những câu hỏi về sức chứa, lợi ích cộng đồng, tác động tới cảnh quan và khả năng duy trì bản sắc. Khi những tiêu chí này trở thành một phần của quyết định đầu tư, bảo tồn sẽ được tích hợp vào tăng trưởng thay vì trở thành nhiệm vụ xử lý hậu quả.

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

‹ PrevNext ›

Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang) được vinh danh là "Điểm đến văn hóa hàng đầu thế giới năm 2025" tại lễ trao giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards - WTA) diễn ra ở Bahrain (6/12/2025). Đây là lần đầu tiên một đại diện của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á đạt được giải thưởng toàn cầu ở hạng mục này, không chỉ khẳng định vị thế nổi bật của Cao nguyên đá Đồng Văn trên bản đồ du lịch quốc tế, là niềm tự hào của ngành du lịch Việt Nam mà còn mở ra cơ hội lớn thu hút lượng khách quốc tế, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, gắn liền với việc bảo tồn di sản. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Nhìn rộng hơn, mục tiêu là nâng chất lượng tăng trưởng của du lịch vùng cao, thay vì làm chậm quá trình phát triển. Một điểm đến có thể đón ít khách hơn trong một thời điểm nhưng thu được giá trị cao hơn nếu khách lưu trú lâu, chi tiêu nhiều và sử dụng nhiều sản phẩm địa phương. Một cộng đồng có thể chọn nhóm khách phù hợp thay vì chạy theo số lượng, nếu cách làm ấy giúp duy trì môi trường sống và tăng thu nhập ổn định.

Điểm gặp nhau trong ý kiến của các nhân vật được Thể thao và Văn hóa phỏng vấn nằm ở đây. Bà Nguyễn Thị Hồng Liễu đặt yêu cầu chất lượng sản phẩm, quản lý và bảo vệ tài nguyên phải theo kịp tăng trưởng; bà Lưu Thị Hòa nhấn mạnh sự đồng thuận và quyền tham gia của cộng đồng; bà Hoàng Hảo đặt câu hỏi về khả năng để người dân hưởng lợi mà bản làng vẫn giữ nhịp sống. Ba góc nhìn cùng dẫn tới một nguyên tắc: phát triển du lịch phải giữ cho điểm đến còn đủ giá trị để tiếp tục phát triển trong tương lai.

Khi một ngôi nhà truyền thống được gìn giữ vì nó vẫn có giá trị đối với gia đình, một nghề thủ công tồn tại vì còn tạo được sinh kế, cảnh quan được bảo vệ vì là tài sản của cộng đồng và người dân có tiếng nói trong cách bản làng đón khách, bảo tồn trở thành một phần của nền kinh tế du lịch. Đó cũng là điều kiện để vùng cao tăng trưởng mà không phải đánh đổi những giá trị đã làm nên sức hút của mình.

(Còn nữa)

Bài viết và trình bày: PHẠM HUY

Ảnh: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

BÁO THỂ THAO VÀ VĂN HÓA

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://dulich.thethaovanhoa.vn/hai-hoa-tang-truong-va-bao-ton-bai-toan-cua-du-lich-vung-cao-20260927173611008.htm