Hải quan cảnh báo loạt hàng xuất khẩu nguy cơ bị điều tra
Nhiều mặt hàng Việt Nam đang chiếm hơn 50% thị phần tại các thị trường lớn, thậm chí tăng trưởng hàng trăm phần trăm. Trước nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, Cục Hải quan yêu cầu tăng cường kiểm soát xuất xứ, đặc biệt với hàng hóa sử dụng nguyên liệu nhập khẩu.
Cục Hải quan vừa ban hành Công văn số 23535, yêu cầu các Chi cục Hải quan khu vực tăng cường kiểm soát nguy cơ gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp và các mặt hàng có khả năng bị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.
Chỉ đạo được đưa ra trên cơ sở Công văn số 8744/BCT-PVTM ngày 22/10/2026 của Bộ Công Thương, kèm danh mục cảnh báo các sản phẩm xuất khẩu có nguy cơ bị điều tra. Các đơn vị hải quan địa phương được yêu cầu chủ động áp dụng biện pháp nghiệp vụ, theo dõi luồng hàng và nhận diện sớm rủi ro trong quá trình thông quan.
Danh sách cảnh báo tập trung vào các nhóm hàng gồm gỗ và sản phẩm gỗ, thép và sản phẩm kim loại, vật liệu, sản phẩm công nghiệp chế tạo, hóa chất, nhựa và sản phẩm nhựa, xơ, sợi, hàng dệt cùng một số mặt hàng khác.

Nhóm sản phẩm thép xuất khẩu đối mặt nhiều rủi ro điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ...
Việc một sản phẩm nằm trong danh sách không đồng nghĩa với việc đã vi phạm hoặc bị đình chỉ xuất khẩu. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khả năng chứng minh xuất xứ và quá trình sản xuất thực tế.
Đối với doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu nhập khẩu, hồ sơ cần bảo đảm truy xuất được từ đầu vào đến thành phẩm, bao gồm chứng từ nhập khẩu, hóa đơn mua nguyên liệu, định mức kỹ thuật, sổ sách xuất nhập tồn và tài liệu chứng minh các công đoạn gia công, chế biến.
Đáng chú ý, hàng hóa chỉ đi qua Việt Nam để thay đổi bao bì, nhãn mác hoặc thực hiện công đoạn gia công đơn giản không mặc nhiên được công nhận có xuất xứ Việt Nam. Doanh nghiệp phải đối chiếu quy tắc xuất xứ của từng thị trường với tờ khai hải quan, dữ liệu sản xuất và giấy chứng nhận xuất xứ để tránh sai lệch khi bị kiểm tra.
Theo danh sách của Cục Phòng vệ thương mại, một số sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng đột biến hoặc chiếm thị phần lớn tại các thị trường nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2026.
Tại Hoa Kỳ, xuất khẩu phương tiện di chuyển cá nhân tốc độ thấp tăng 373,8%, đạt 72,7 triệu USD, chiếm 72,2% thị phần. Diễn biến này xuất hiện sau khi Mỹ áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với hàng Trung Quốc từ tháng 8/2025.
Hai nhóm nội thất gỗ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn dù kim ngạch giảm. Ghế bọc đệm khung gỗ đạt 1,86 tỷ USD, giảm 6,7% nhưng vẫn chiếm 61,6% thị phần; đồ nội thất phòng ngủ bằng gỗ đạt 892,9 triệu USD, giảm 21,1% và chiếm 56,7% thị phần. Quy mô xuất khẩu lớn khiến các mặt hàng này tiếp tục nằm trong diện cần theo dõi rủi ro phòng vệ thương mại.
Tại EU, xuất khẩu nến và sản phẩm tương tự từ Việt Nam tăng 421,3%, đạt 106,64 triệu USD, chiếm 51,7% tổng nhập khẩu của khối. Đáng chú ý, EU đã áp thuế từ 56,7% đến 60,3% đối với nến Trung Quốc kể từ ngày 27/1/2026.
Thị trường Ấn Độ cũng ghi nhận mức tăng mạnh ở hai nhóm sản phẩm. Kính cường lực dùng cho thiết bị gia dụng tăng gấp 9,6 lần, đạt 130,3 triệu USD, chiếm 11,3% thị phần. Khung nhôm cho tấm pin và mô-đun năng lượng mặt trời đạt 187,4 triệu USD, tăng 132,1%, đưa Việt Nam trở thành nhà cung cấp lớn thứ hai.
Tại Mê-hi-cô, xuất khẩu đinh thép tăng 688,5%, từ khoảng 235.600 USD lên 1,9 triệu USD, đứng thứ tư về thị phần trong bối cảnh nước này đang áp thuế đối với hàng Trung Quốc.
Ở Ca-na-đa, xuất khẩu ống đồng tăng 77,6%, đạt 32,9 triệu USD, đưa Việt Nam dẫn đầu thị trường với 35,1% thị phần.
Trong khi đó, xuất khẩu nhôm thanh định hình sang Úc tăng 134,9%, đạt 42,1 triệu USD, đứng thứ ba tại thị trường này. Biện pháp áp thuế được áp dụng từ năm 2017 đã hết hiệu lực vào tháng 6/2022.
Những biến động lớn về kim ngạch và thị phần, đặc biệt tại các thị trường đang áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại với hàng hóa từ quốc gia khác, làm gia tăng yêu cầu kiểm soát nguy cơ gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp.
Với doanh nghiệp xuất khẩu, vấn đề không chỉ là đáp ứng thủ tục thông quan mà còn phải chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu, tỷ lệ gia công và quá trình sản xuất thực tế. Hồ sơ chuỗi cung ứng đầy đủ, nhất quán sẽ là căn cứ quan trọng để giải trình khi cơ quan chức năng nước nhập khẩu tiến hành điều tra.
