Hạm đội liên hợp mới của NATO: Kỳ vọng và thách thức

Tại Hội nghị thượng đỉnh vừa bế mạc ở Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ), Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã công bố 'Sáng kiến Liên hợp Hàng hải 12 quốc gia', khởi động quá trình xây dựng một hạm đội liên hợp kiểu mới. Được đánh giá là bước đi hướng tới mô hình 'NATO 3.0' trong triển khai sức mạnh trên biển, lực lượng này có quy mô và chức năng mở rộng hơn so với các cơ chế hiện hành. Tuy nhiên, những khác biệt giữa các thành viên cùng hạn chế về nguồn lực khiến hiệu quả hoạt động của hạm đội, với nòng cốt là các nước châu Âu, vẫn còn là dấu hỏi.

Mở rộng cơ chế quốc phòng

Sáng kiến do Vương quốc Anh đề xuất tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng NATO diễn ra vào cuối tháng 6. Nhóm thành viên đầu tiên gồm Anh, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Iceland, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Thụy Điển. Hạm đội này thuộc hệ thống phòng thủ chung của NATO và được Trung tâm Chỉ huy Northwood (Anh) đảm nhiệm chỉ huy thường xuyên.

Hạm đội liên hợp kiểu mới được xác định là "bộ phận bổ sung quan trọng cho hệ thống tác chiến trên biển hiện có của NATO". Theo kế hoạch, đến năm 2036, lực lượng này sẽ có khả năng độc lập thực hiện các nhiệm vụ chống ngầm, bảo vệ cơ sở hạ tầng dưới đáy biển và răn đe trên đại dương; phạm vi triển khai bao trùm Đại Tây Dương, biển Baltic và khu vực Bắc Cực. Trong thời bình, các nước thành viên sẽ luân phiên điều động tàu có người điều khiển và các phương tiện không người lái để tổ chức tuần tra. Khi xảy ra xung đột, hạm đội sẽ được biên chế vào lực lượng tác chiến liên hợp thuộc Bộ tư lệnh Hải quân đồng minh NATO.

Ở giai đoạn hiện nay, việc xây dựng hạm đội tập trung vào hai nội dung chính. Thứ nhất, thiết lập mạng lưới nhận thức tình huống hàng hải toàn diện thông qua việc tích hợp các nguồn vệ tinh quân sự và thương mại của các nước thành viên nhằm tăng cường năng lực giám sát thường xuyên tại các vùng biển trọng điểm. Thứ hai, hoàn thiện quy trình chỉ huy, kiểm soát thống nhất; đưa các nội dung như tìm kiếm cứu nạn trên biển, thực thi pháp luật về nghề cá, bảo vệ hệ thống đường ống ngầm và ứng phó các tình huống trong "vùng xám" vào chương trình huấn luyện, diễn tập thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp hành động đa quốc gia.

Theo trang 81.cn, so với các cơ chế bảo đảm an ninh hàng hải hiện nay ở châu Âu, hạm đội liên hợp kiểu mới có sự điều chỉnh rõ rệt về phạm vi hoạt động, nhiệm vụ và phương thức vận hành. Khác với mô hình lực lượng tạm thời của sáng kiến "Baltic Sentry", hạm đội mới hoạt động theo cơ chế thường trực với cơ cấu tổ chức tương đối ổn định. So với biên đội tàu hộ vệ do Anh và Na Uy phối hợp thành lập, lực lượng mới không chỉ gia tăng đáng kể về quân số và trang bị, mà còn mở rộng phạm vi nhiệm vụ từ Biển Bắc sang Đại Tây Dương, Bắc Cực và biển Baltic, đồng thời chuyển từ nhiệm vụ chống ngầm đơn thuần sang kiểm soát trên biển và bảo vệ cơ sở hạ tầng.

Nếu so với Lực lượng viễn chinh Liên hợp do Anh dẫn dắt đã hoạt động hơn 10 năm, hạm đội mới vượt ra ngoài phạm vi Bắc Âu và Baltic, thu hút thêm các cường quốc quân sự châu Âu như Pháp, Đức cùng đồng minh xuyên Đại Tây Dương là Canada, qua đó mở rộng đáng kể thành phần tham gia.

 Tàu chiến của nhiều nước NATO tập kết tại khu vực Biển Baltic. Ảnh: 81.cn

Tàu chiến của nhiều nước NATO tập kết tại khu vực Biển Baltic. Ảnh: 81.cn

Điều chỉnh phân công trách nhiệm

Việc thành lập hạm đội liên hợp kiểu mới phản ánh xu hướng điều chỉnh mô hình vận hành quốc phòng của NATO, từ chỗ do Mỹ giữ vai trò chi phối toàn diện sang cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa Mỹ và châu Âu.

Trong trạng thái bình thường, hạm đội vận hành theo chuỗi chỉ huy ba cấp gồm: Bộ tư lệnh Liên quân Norfolk - Trung tâm Chỉ huy Northwood - Hạm đội, trong đó các quốc gia châu Âu giữ vai trò chủ đạo trong quản lý thường xuyên. Khi xảy ra chiến sự, hệ thống sẽ chuyển sang chuỗi chỉ huy: Bộ tư lệnh tối cao đồng minh châu Âu - Bộ tư lệnh Hải quân đồng minh NATO - Hạm đội, qua đó được tích hợp hoàn toàn vào hệ thống tác chiến chung của NATO. Mô hình vận hành của hạm đội không chỉ tạo cơ sở tham khảo cho quá trình tăng cường năng lực quốc phòng tự chủ của châu Âu, mà còn mở ra hướng tiếp cận mới đối với hợp tác quốc phòng xuyên Đại Tây Dương.

Ở góc độ chiến lược, việc thành lập hạm đội mới cũng phản ánh xu hướng "khu vực hóa" trong hoạt động quân sự của NATO. Mặc dù vẫn duy trì khả năng triển khai xa bờ, phạm vi nhiệm vụ của lực lượng này chủ yếu tập trung tại các vùng biển xung quanh châu Âu. Điều đó cho thấy NATO đang thu hẹp phạm vi hoạt động quân sự toàn cầu, tập trung nhiều hơn nguồn lực quốc phòng và bố trí lực lượng tại châu Âu cùng các vùng biển lân cận, ưu tiên bảo vệ lợi ích khu vực.

Trong lĩnh vực phát triển trang bị, kế hoạch xây dựng hạm đội phù hợp với xu hướng tăng cường hợp tác quốc phòng và chuẩn hóa trang bị tại châu Âu. 12 quốc gia thành viên sẽ cùng thành lập quỹ chuyên biệt phục vụ mua sắm trang bị; phân bổ kinh phí xây dựng trong 10 năm tới theo quy mô hải quân và nhu cầu quốc phòng của từng nước; đồng thời thúc đẩy thống nhất các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với trang bị chống ngầm trên hạm và trinh sát trên biển. Mục tiêu là khắc phục các rào cản kỹ thuật trong tác chiến liên hợp đa quốc gia, nâng cao năng lực sản xuất của ngành công nghiệp quốc phòng và tạo nền tảng cho quá trình nhất thể hóa công nghiệp quốc phòng châu Âu.

Vẫn còn những khác biệt

Trang chinamil.com.cn bình luận, việc thành lập hạm đội liên hợp kiểu mới xuất phát từ những tính toán lợi ích riêng của từng quốc gia thành viên. Anh mong muốn giữ vai trò dẫn dắt cơ chế này nhằm nâng cao vị thế trong cấu trúc an ninh châu Âu. Pháp và Đức hướng tới việc hợp nhất sức mạnh hải quân, thúc đẩy phổ biến tiêu chuẩn chiến thuật và trang bị chủ lực, qua đó giành vai trò chủ đạo trong hệ thống trang bị hải quân châu Âu. Canada tập trung vào các vấn đề Bắc Cực, mong muốn tăng cường hiện diện và năng lực kiểm soát các tuyến hàng hải ở Bắc Đại Tây Dương và Bắc Cực. Trong khi đó, Phần Lan và Thụy Điển kỳ vọng lồng ghép sâu hơn hệ thống quốc phòng của mình vào cơ chế phòng thủ tập thể của NATO nhằm giảm bớt áp lực an ninh. Tuy nhiên, ý nghĩa chính trị của việc thành lập hạm đội được đánh giá lớn hơn nhiều so với hiệu quả quân sự thực tế. Quá trình xây dựng lực lượng này cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn.

Thiếu hụt trang bị và năng lực tự chủ sản xuất còn hạn chế là những thách thức chủ yếu. Phần lớn các thành viên châu Âu đều tồn tại khoảng trống về năng lực tác chiến. Hải quân Anh thường xuyên gặp sự cố kỹ thuật, tỷ lệ sẵn sàng chiến đấu của các tàu chủ lực không cao; hai tàu sân bay vẫn thiếu máy bay trên hạm theo biên chế. Pháp và Đức gặp khó khăn do chi phí đóng tàu viễn dương cao và thời gian nghiên cứu, chế tạo kéo dài, khó có thể nhanh chóng đưa vào trang bị với số lượng lớn. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chủ yếu sở hữu tàu cỡ vừa và nhỏ hoạt động ven bờ, khó đáp ứng yêu cầu tác chiến cường độ cao ở Bắc Cực và vùng biển xa.

Bên cạnh đó, châu Âu vẫn phụ thuộc đáng kể vào Mỹ trong các lĩnh vực như tên lửa chống hạm tầm xa, hệ thống trinh sát dưới nước và linh kiện cốt lõi của các trang bị công nghệ cao, nên khó đạt được năng lực tự chủ trong ngắn hạn. Một số quốc gia Bắc Âu có ngân sách quốc phòng hạn chế, chưa đủ khả năng triển khai các chương trình đóng tàu quy mô lớn, khiến quá trình hiện đại hóa và mở rộng quy mô hạm đội gặp nhiều trở ngại.

Sự khác biệt về quy tắc chỉ huy và tiêu chuẩn kỹ thuật trang bị cũng tạo ra rào cản đối với hoạt động phối hợp đa quốc gia. Vì lý do bảo vệ công nghệ và an ninh quốc phòng, các nước thành viên vẫn duy trì hệ thống chỉ huy, kiểm soát trên biển riêng. Anh tiếp tục phát triển hệ thống truyền dữ liệu hàng hải chuyên dụng; Pháp thúc đẩy triển khai phiên bản nội địa hóa của hệ thống dữ liệu chiến thuật LINK-16; Đức và Thụy Điển tăng cường khả năng tương thích của thiết bị thông tin thông qua cơ chế hợp tác song phương. Mặc dù hạm đội đã xác định xây dựng nhận thức tình huống hàng hải và chỉ huy liên hợp đa quốc gia là nhiệm vụ trọng tâm, song sự khác biệt về định hướng công nghệ và khó khăn trong kết nối dữ liệu khiến mức độ hợp tác mới chỉ dừng ở bề mặt, hiệu quả hiệp đồng còn hạn chế.

Bên cạnh đó, ưu tiên chiến lược của các quốc gia thành viên cũng có sự khác biệt đáng kể. Phần Lan và Na Uy tập trung vào phòng thủ khu vực biển Baltic; Iceland và Canada ưu tiên kiểm soát các tuyến hàng hải Bắc Cực; Pháp và Đức quan tâm đến an ninh tại Địa Trung Hải và khu vực trung tâm Đại Tây Dương; trong khi Anh mong muốn giữ vai trò dẫn dắt trong việc định hình các quy tắc tại toàn bộ khu vực Bắc Đại Tây Dương. Sự phân tán về trọng tâm chiến lược khiến hạm đội liên hợp kiểu mới khó hình thành định hướng tác chiến thống nhất.

Đồng thời, Mỹ có thể tiếp tục duy trì ảnh hưởng đối với xu hướng phát triển quốc phòng trên biển của châu Âu thông qua các biện pháp như kiểm soát thương mại quốc phòng, chia sẻ thông tin tình báo có chọn lọc và hạn chế chuyển giao công nghệ.

VĂN DUYÊN

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/quoc-te/quan-su-the-gioi/ham-doi-lien-hop-moi-cua-nato-ky-vong-va-thach-thuc-1051495