Hàng chục công trình nước sạch vùng miền núi Quảng Trị kém hiệu quả
Nhiều công trình cấp nước tập trung được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn trong nhiều năm qua tại khu vực miền núi Minh Hóa cũ (Quảng Trị) nhưng phần lớn hoạt động không hiệu quả hoặc đã ngừng hoạt động. Hàng nghìn hộ dân vẫn phải sử dụng nước suối, giếng đào và nước mưa để sinh hoạt.
Chỉ 5/41 công trình hoạt động tương đối bền vững
Theo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Quảng Trị, trên địa bàn 5 xã Dân Hóa, Kim Điền, Kim Phú, Tân Thành và Minh Hóa hiện có khoảng 14.401 hộ dân. Do địa hình miền núi chia cắt, thường xuyên chịu tác động của hạn hán, mưa lũ nên việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt ổn định gặp rất nhiều khó khăn.

Một công trình nước sạch bỏ hoang ở huyện Minh Hóa cũ.
Hiện toàn khu vực có 41 công trình cấp nước tập trung. Tuy nhiên, chỉ 5 công trình được đánh giá hoạt động tương đối bền vững; 30 công trình hoạt động không bền vững và 6 công trình đã ngừng hoạt động.
Bởi vậy, nguồn nước sinh hoạt của người dân vẫn chủ yếu dựa vào giếng đào, giếng khoan, nước mưa và các khe suối tự nhiên. Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn cũng rất thấp so với mức bình quân toàn tỉnh là 64,3%. Cụ thể, xã Kim Điền chỉ đạt 7,1%; Dân Hóa 13,7%; Kim Phú 25,2%; Tân Thành 60,3%; chỉ riêng xã Minh Hóa đạt 88,2%.
Những con số trên cho thấy nghịch lý, khi nhiều công trình cấp nước đã được đầu tư, nhưng hàng nghìn hộ dân miền núi vẫn chưa được tiếp cận nguồn nước sạch ổn định.

Đa số người dân đang phải dùng nước khe suối.
Cần nhìn thẳng vào hiệu quả đầu tư
Điều dư luận quan tâm không chỉ là việc các công trình xuống cấp sau nhiều năm sử dụng, mà còn là hiệu quả của nguồn vốn đầu tư công. Các công trình này được xây dựng bằng những nguồn vốn nào, tổng mức đầu tư bao nhiêu, vì sao chỉ còn số ít phát huy hiệu quả? Có hay không tình trạng đầu tư dàn trải, quy mô nhỏ, thiếu kinh phí vận hành, bảo dưỡng sau khi bàn giao?
Trao đổi với Tiền Phong, ông Bùi Thái Nguyên, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Quảng Trị cho biết, phần lớn các công trình cấp nước trên địa bàn huyện Minh Hóa (cũ) được đầu tư từ nhiều giai đoạn khác nhau bằng các nguồn vốn như Chương trình 134, Chương trình 135, Chương trình dựng nông thôn mới và một số chương trình hỗ trợ khác.
“Theo từng giai đoạn, các địa phương là chủ đầu tư. Đến nay, có một số công trình đã được xây dựng từ lâu, quy mô nhỏ, xuống cấp, trong khi nhu cầu sử dụng nước của người dân ngày càng tăng nên không còn đáp ứng được yêu cầu thực tế” - ông Nguyên nói.

Những hộ gia đình có điều kiện thì tự khoan giếng để dùng.
Theo ông Nguyên, ngoài yếu tố thời gian, điều kiện địa hình miền núi chia cắt, nguồn nước phân tán và thiên tai diễn biến phức tạp cũng làm gia tăng chi phí vận hành, bảo dưỡng các công trình cấp nước.
Tuy nhiên, thực tế có tới 36/41 công trình hoạt động không bền vững hoặc ngừng hoạt động cho thấy, cần có sự rà soát tổng thể để đánh giá hiệu quả đầu tư cũng như xác định nhu cầu đầu tư theo hướng bền vững hơn.
Đề xuất xây dựng nhà máy nước liên xã
Để giải quyết căn cơ tình trạng thiếu nước sạch, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã đề xuất đầu tư Dự án Nhà máy nước Kim Điền bằng nguồn vốn đầu tư công từ ngân sách Trung ương.

Đề xuất xây dựng Nhà máy nước liên xã.
Theo phương án nghiên cứu, nhà máy sẽ khai thác nguồn nước từ đập Khe Dỗi, có công suất khoảng 5.000 m³/ngày đêm, cấp nước cho khoảng 7.800 hộ dân thuộc các xã Hóa Sơn, Hóa Hợp, Thượng Hóa, Trung Hóa, Tân Hóa, Minh Hóa, Xuân Hóa, Hồng Hóa… thuộc huyện Minh Hóa cũ.
Riêng hai xã Dân Hóa và Tân Thành sẽ được đầu tư nhà máy nước riêng kết hợp sửa chữa, nâng cấp các công trình hiện có. Một số khu vực của xã Kim Phú và xã Minh Hóa sẽ sử dụng nguồn nước từ Công ty Cổ phần Cấp nước Quảng Bình.
Theo ông Bùi Thái Nguyên, việc đầu tư một nhà máy nước quy mô liên xã sẽ khắc phục tình trạng đầu tư manh mún trước đây, đồng thời tạo nguồn cấp nước ổn định, bảo đảm chất lượng cho người dân trong nhiều năm tới.

Nhiều ý kiến cho rằng, cần tổ chức rà soát, đánh giá hiệu quả toàn bộ các công trình đã đầu tư trước đây, làm rõ nguyên nhân khiến nhiều công trình hoạt động kém hiệu quả.
Nếu được bố trí vốn và triển khai đúng tiến độ, dự án không chỉ nâng cao tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn mà còn góp phần hoàn thành tiêu chí nước sạch trong xây dựng nông thôn mới, cải thiện điều kiện sống và sức khỏe của hàng nghìn hộ dân miền núi.













