Hàng hải-Đường thủy: Tạo đột phá thể chế, kiến tạo không gian phát triển quốc gia
Sau hơn hai thập kỷ phát triển theo quy hoạch, hàng hải và đường thủy nội địa Việt Nam đã từng bước khẳng định là một trong những trụ cột của hạ tầng kinh tế quốc gia. Việc hợp nhất hai cơ quan quản lý chuyên ngành thành Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển mới, tích hợp và bền vững hơn.

Tàu tải trọng lớn lưu thông qua cảng Cát Lái nhờ hạ tầng hiện đại.
Sau hơn hai thập kỷ phát triển, hàng hải và đường thủy nội địa Việt Nam đã hình thành hệ thống hạ tầng ngày càng hiện đại, giữ vai trò trụ cột trong kinh tế biển và logistics quốc gia. Việc hợp nhất hai cơ quan quản lý chuyên ngành thành Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam từ tháng 3/2025 được đánh giá là dấu mốc quan trọng, tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển mới, tích hợp và bền vững hơn.
Theo ông Lê Đỗ Mười, Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, thành tựu nổi bật nhất của ngành không chỉ nằm ở quy mô hạ tầng, mà ở việc xây dựng được nền móng cho một hệ thống giao thông thủy hiện đại, đủ năng lực hội nhập sâu với khu vực và thế giới.

Ông Lê Đỗ Mười, Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân
Hạ tầng hiện đại, đóng góp lớn cho tăng trưởng
Trong lĩnh vực hàng hải, Việt Nam đã đầu tư phát triển hệ thống cảng biển thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về quy mô và năng lực. Tổng chiều dài bến cảng đạt khoảng 106km, với năng lực xếp dỡ gần 1 tỷ tấn hàng hóa mỗi năm. Các cụm cảng nước sâu như Cái Mép-Thị Vải và Lạch Huyện cho phép tiếp nhận tàu container trọng tải lớn nhất thế giới, tham gia trực tiếp các tuyến vận tải xuyên lục địa.
Hàng hải hiện đảm nhận hơn 90% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Có thể nói, hệ thống cảng biển chính là "cánh cửa mở ra đại dương" của nền kinh tế hội nhập, ông Lê Đỗ Mười nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, hệ thống 45 tuyến luồng hàng hải, 94 đèn biển, hơn 1.200 phao tiêu báo hiệu, các trung tâm VTS và hệ thống theo dõi tàu thuyền tầm xa đã tạo nền tảng bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải và chủ quyền quốc gia.
Ở lĩnh vực đường thủy nội địa, gần 27.000 km tuyến được quản lý khai thác; 310 cảng thủy nội địa cùng hàng nghìn bến thủy đã phát huy hiệu quả trong vận tải hàng khối lượng lớn, hàng rời, siêu trường, siêu trọng. Các dự án nâng cấp kênh huyết mạch, cải thiện tĩnh không cầu đã kết nối trực tiếp đường thủy với cảng biển, góp phần giảm chi phí logistics và áp lực cho đường bộ.

Hệ thống cảng xanh hiện đại đang được đưa vào vận hành đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
“Đường thủy nội địa chiếm khoảng 18-20% khối lượng vận tải hàng hóa. Quan trọng hơn, đây là phương thức vận tải có chi phí thấp, ít phát thải, là giải pháp căn cơ để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế”, ông cho biết.
Hợp nhất quản lý, bước chuyển lớn về thể chế và tư duy phát triển
Dấu ấn nổi bật trong giai đoạn vừa qua là quyết định hợp nhất Cục Hàng hải Việt Nam và Cục Đường thủy nội địa Việt Nam thành Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam.
Việc hợp nhất không đơn thuần là tinh gọn bộ máy, mà là bước chuyển từ quản lý phân tán theo lĩnh vực sang quản lý tích hợp theo hệ thống giao thông thủy thống nhất.

Ông Lê Đỗ Mười, Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam.
“Giá trị lớn nhất của việc hợp nhất là tạo sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành, giảm tầng nấc trung gian và đặc biệt là chuyển đổi tư duy quản lý từ tiếp cận theo từng lĩnh vực pháp lý sang tiếp cận theo chuỗi vận tải, theo không gian phát triển và vòng đời hạ tầng”, ông khẳng định.
Ngành đang hoàn thiện để trình xây dựng Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam trên cơ sở hợp nhất hai đạo luật hiện hành. Theo Cục trưởng Lê Đỗ Mười, đây sẽ là nền tảng pháp lý then chốt nhằm xóa bỏ chồng chéo, khơi thông nguồn lực xã hội và tạo sự đồng bộ trong đầu tư, khai thác hạ tầng giao thông thủy.
Song song với đó, ngành đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương trong đầu tư, quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng, gắn với cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội.
Xanh hóa, số hóa để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Theo đó, quy hoạch sẽ được tổ chức lại theo hành lang kinh tế và không gian phát triển liên vùng; hình thành các cụm cảng-logistics-công nghiệp ven biển và ven sông lớn; gắn kết cảng biển với hậu phương cảng, khu công nghiệp và trung tâm logistics, tránh đầu tư manh mún, phân tán.

Hệ thống kho bãi được quản lý bằng hạ tầng thông tin hiện đại
Một trụ cột quan trọng khác là phát triển theo hướng xanh hóa và số hóa. Ngành đặt mục tiêu tăng tỷ trọng vận tải thủy nhằm giảm phát thải; phát triển đội tàu sử dụng nhiên liệu sạch; xây dựng mô hình cảng xanh, cảng thông minh; ứng dụng dữ liệu lớn và tự động hóa trong quản lý luồng tuyến và khai thác cảng.
“Hàng hải và đường thủy không chỉ là đường đi của hàng hóa, mà phải trở thành đường đi của phát triển. Nếu được tổ chức và quản lý đúng hướng, đây sẽ là động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy kinh tế biển bền vững”, Cục trưởng Lê Đỗ Mười nhấn mạnh.
Với nền tảng hạ tầng đã được xây dựng và bước chuyển mạnh mẽ về thể chế, giao thông thủy Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.











