Hàng loạt siêu dự án khởi công, TP.HCM đang tăng tốc hay lao vào 'điểm mù'?
Hàng loạt siêu dự án khởi công, TP.HCM đứng trước bài toán lớn về quản trị, vốn, công nghệ và môi trường, tiềm ẩn rủi ro 'điểm mù'.
Không phải ngẫu nhiên mà cùng một buổi sáng nay (29/4), TP.HCM đồng loạt khởi công hàng loạt đại dự án – từ metro, quảng trường trung tâm đến các không gian công cộng mang tính biểu tượng. Đằng sau những “cú nhấn ga” hạ tầng ấy không chỉ là kỳ vọng tăng trưởng, mà còn là một phép thử khắc nghiệt về năng lực quản trị đô thị trong bối cảnh nguồn lực, môi trường và lợi ích đa chiều đan xen phức tạp.
Liệu thành phố có thể tránh được “vết xe đổ” của những dự án chậm tiến độ, đội vốn? Mô hình hợp tác công – tư sẽ vận hành ra sao để không trở thành điểm nghẽn? Công nghệ như BIM có thực sự là chìa khóa, hay chỉ là công cụ nếu thiếu con người đủ năng lực? Và đặc biệt, làm thế nào để phát triển những vùng nhạy cảm như Cần Giờ mà không đánh đổi môi trường và tương lai dài hạn?

TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Quản lý một siêu dự án đô thị hiện đại không thể dựa trên tư duy "cát cứ" của từng sở ngành riêng lẻ mà phải giống như một dàn nhạc giao hưởng đang biểu diễn - Ảnh: NVCC
Cần mô hình "dàn nhạc giao hưởng"
Trong cuộc trao đổi thẳng thắn với phóng viên Một Thế Giới, chuyên gia quy hoạch đô thị TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn không chỉ giải mã những bài toán “nóng” của TP.HCM hôm nay, mà còn gợi mở một cách tiếp cận hoàn toàn khác: quản trị đô thị như một “dàn nhạc giao hưởng”, nơi mọi quyết định phải dựa trên khoa học, dữ liệu và trách nhiệm liên ngành – nếu không muốn những siêu dự án trở thành gánh nặng thay vì động lực phát triển.
- Việc TP.HCM đồng loạt khởi công nhiều siêu dự án cùng lúc mang lại kỳ vọng rất lớn, nhưng làm thế nào để chúng ta điều phối vĩ mô hiệu quả, tránh được tình trạng "tắc nghẽn" nguồn lực từ vốn đến vật liệu xây dựng?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Để giải quyết bài toán điều phối cho một "trận đánh lớn" như hiện nay, điều quan trọng nhất chính là sự phân công trách nhiệm rạch ròi giữa khu vực công và khu vực tư. Trong mô hình hợp tác công tư (PPP), Nhà nước cần tập trung toàn lực vào việc xây dựng thể chế, ban hành các chính sách linh hoạt, xử lý dứt điểm các vướng mắc pháp lý và chuẩn bị quỹ đất sạch để bàn giao đúng tiến độ. Trong khi đó, khu vực tư nhân sẽ đóng vai trò then chốt trong việc huy động vốn đầu tư, quản trị dự án chuyên nghiệp và điều tiết dòng tiền để đảm bảo nhịp độ thi công.
Thành phố cần nhìn nhận mỗi dự án lớn như một mắt xích trong một cuộc chiến tổng thể, nơi mà nếu một mắt xích bị lỗi thì toàn bộ hệ thống sẽ phải ngồi chờ. Chúng ta chưa thực sự quen với việc quản lý đồng thời nhiều dự án phức tạp ở quy mô này, vì vậy sự chủ động của tư nhân – vốn luôn nhạy bén với lợi nhuận và hiệu quả – sẽ là động lực thúc đẩy. Tuy nhiên, năng lực quản lý công mới là yếu tố quyết định để kết nối các nguồn lực này lại với nhau thành một chỉnh thể thống nhất, đảm bảo vật liệu và logistic được cung ứng kịp thời cho công trường.
- Tại sao ông lại nhấn mạnh mô hình "dàn nhạc giao hưởng" trong quản lý dự án đô thị và vai trò của các Tổ công tác đa ngành trong mô hình này là gì?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Quản lý một siêu dự án đô thị hiện đại không thể dựa trên tư duy "cát cứ" của từng sở ngành riêng lẻ mà phải giống như một dàn nhạc giao hưởng đang biểu diễn. Trong đó, mỗi sở ngành như Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch – Kiến trúc, Sở Tài chính hay Sở Nông và Môi trường là một nhạc công, và họ cần một nhạc trưởng để chỉ huy sự phối hợp nhịp nhàng. Nếu mỗi nhạc công chỉ chơi theo ý thích hoặc tiến độ riêng của mình, bản nhạc sẽ trở thành mớ hỗn độn và dự án chắc chắn sẽ thất bại.
Do đó, mỗi dự án lớn cần có một Tổ công tác riêng biệt trực thuộc UBND Thành phố để thực hiện vai trò nhạc trưởng này. Tổ công tác này không nên lo quá nhiều dự án cùng lúc mà cần tập trung nguồn lực để điều phối các sở ngành và phía tư nhân ngồi lại với nhau thường xuyên. Nhiệm vụ của họ là đưa ra các quyết định dựa trên dữ liệu tập trung, đảm bảo rằng mọi cam kết về vốn, đất đai và kỹ thuật đều được thực hiện đúng thời hạn mà không có chỗ cho những lý do "tại, bị, bởi" gây kéo dài thời gian và đội vốn dự án.

Nhiều siêu dự án được khởi công vào sáng nay (29/4) gồm: Tuyến metro số 2 (Bến Thành - Thủ Thiêm) được kỳ vọng sẽ góp phần kết nối sân bay Long Thành và sân bay Tân Sơn Nhất
- Mô hình thông tin xây dựng (BIM) đang được nhắc đến như một cuộc cách mạng công nghệ, nhưng liệu đây có phải là "chiếc đũa thần" cho quản trị thông minh tại Việt Nam hiện nay hay không?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: BIM thực chất là quá trình số hóa toàn bộ thông tin của công trình, từ thiết kế 3D đến các thông số kỹ thuật chi tiết như điện, nước, sắt thép và thậm chí là tính toán dự toán đến từng con ốc vít. Việc ứng dụng BIM mang lại lợi ích rất lớn trong việc kiểm soát độ chính xác, giúp dự toán sát với thực tế hơn và ngăn chặn tình trạng đội vốn từ vài triệu lên đến hàng chục triệu đô la một cách vô lý. Tuy nhiên, cần phải làm rõ một hiểu lầm phổ biến: số hóa dữ liệu không đồng nghĩa với quản trị thông minh.
Dữ liệu từ BIM chỉ là nguyên liệu thô, giống như thực phẩm tươi sống; còn muốn có một "món ăn" quản trị thông minh thì vẫn cần một người đầu bếp giỏi là con người để xử lý và đưa ra các kịch bản thực hiện hiệu quả. Trong bối cảnh năng lực số hóa dữ liệu tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, chúng ta nên khuyến khích ứng dụng BIM thay vì biến nó thành một điều kiện bắt buộc ngay lập tức cho tất cả các dự án đang triển khai gấp. Nếu bắt buộc quá sớm, dự án sẽ phải dừng lại chờ đợi quá trình số hóa hồ sơ, vô tình tạo ra một nút thắt cổ chai mới làm chậm trễ tiến độ thi công.
Nếu dự án có tác động xấu, nhà đầu tư phải trích một phần lợi nhuận để khắc phục hậu quả
- Đối với các dự án nằm trên vùng đất yếu và nhạy cảm về sinh thái như Cần Giờ hay Nhà Bè, thách thức về mặt kỹ thuật liệu có phải là rào cản lớn nhất đối với các nhà đầu tư?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Dưới góc độ chuyên môn, tôi khẳng định rằng về mặt kỹ thuật, con người hiện nay có thể xây dựng ở bất cứ đâu, từ dưới lòng biển sâu đến trên cung trăng. Vì vậy, việc xây dựng trên nền đất yếu ở phía Nam thành phố không phải là vấn đề không làm được, mà quan trọng là làm với kinh phí nào và mức giá bao nhiêu. Nhà đầu tư tư nhân, nhất là các tập đoàn lớn, thường nắm rất vững các giải pháp kỹ thuật vì điều đó liên quan trực tiếp đến sự an toàn và lợi nhuận của chính họ; nếu họ làm móng không tốt dẫn đến công trình bị lún chìm, họ chính là người thiệt hại đầu tiên.
Vấn đề mà Nhà nước và các Tổ công tác cần đặc biệt quan tâm không phải là chỉ đạo kỹ thuật cho tư nhân, mà là giám sát để họ không lấy lý do "đất yếu kỹ thuật khó" để đôn giá thành lên quá cao so với thực tế khi thương thảo hợp đồng. Chúng ta cần một sự cam kết minh bạch về giá cả và chất lượng, đảm bảo rằng phương án kỹ thuật được chọn là tối ưu nhất về cả chi phí lẫn hiệu quả lâu dài thay vì chỉ chọn phương án mang lại lợi nhuận cao nhất cho nhà đầu tư.

Quảng trường trung tâm và Trung tâm hành chính - chính trị quy mô gần 47 ha
- Ông thường cảnh báo về việc đánh giá tác động môi trường không chỉ dừng lại ở phạm vi dự án. Vậy đâu là những rủi ro ngoại ứng mà chúng ta thường bỏ quên khi triển khai các đại dự án hạ tầng?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Điều tôi lo ngại nhất không phải là dự án có bị lún hay không, mà là khi nhà đầu tư xử lý nền đất cho công trình của họ thì khu vực xung quanh sẽ bị ảnh hưởng như thế nào. Ví dụ, việc đóng cọc gia cố móng quy mô lớn có thể gây rung chấn làm nứt nhà dân lân cận, hoặc việc nâng cao cốt nền dự án sẽ biến các khu dân cư hiện hữu xung quanh thành những "rốn ngập" mỗi khi mưa xuống vì nước không còn đường thoát. Đây là trách nhiệm xã hội mà các nhà đầu tư phải cam kết thực hiện và các cơ quan quản lý phải giám sát chặt chẽ.
Một vấn đề nghiêm trọng khác là nguồn vật liệu san lấp, đặc biệt là cát sông. Để xây dựng những con đường cao tốc hay các khu đô thị lấn biển, chúng ta cần một lượng cát khổng lồ, và nếu việc khai thác không được kiểm soát nguồn gốc rõ ràng sẽ dẫn đến tình trạng sạt lở nghiêm trọng ở các vùng khác. Nhà đầu tư cần phải giải trình được họ lấy cát từ đâu và có gây hại cho môi trường hay không; nếu có tác động xấu, họ phải trích một phần lợi nhuận để bồi thường và khắc phục hậu quả cho cộng đồng thay vì để lại gánh nặng đó cho ngân sách Nhà nước.
Nên quy hoạch Cần Giờ ra sao?
- Về quy hoạch Cần Giờ, ông từng có những góp ý thẳng thắn về việc không nên mở rộng đường Rừng Sác làm trục chính và đặt tuyến metro chạy dọc theo đó. Lý do khoa học đằng sau quan điểm này là gì?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Đây là câu chuyện về việc giải quyết vấn đề từ gốc quy hoạch thay vì đi sửa cái ngọn bằng kỹ thuật. Đường Rừng Sác hiện nay chạy sát mép vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn, một hệ sinh thái cực kỳ nhạy cảm. Nếu chúng ta mở rộng tuyến đường này thành cao tốc và xây dựng metro dọc theo đó, quá trình thi công với các bãi lán trại, tiếng ồn, bụi bặm và chất thải chắc chắn sẽ xâm hại nghiêm trọng đến rừng. Sau khi vận hành, sự ô nhiễm từ khói bụi và dầu nhớt trôi xuống rừng khi mưa cũng là một thảm họa môi trường âm thầm.
Hơn nữa, về mặt kinh tế, việc đặt metro trên trục đường Rừng Sác là một sự lãng phí lớn vì chúng ta không được phép phát triển đô thị hai bên rừng, dẫn đến tuyến metro sẽ "chạy chay" mà không có hành khách. Tôi đã từng đề xuất nên làm một tuyến đường mới hoàn toàn ở phía Tây đường Rừng Sác. Tuyến đường này vừa giúp bảo vệ vùng lõi sinh thái, vừa tạo ra không gian để phát triển đô thị theo mô hình TOD (phát triển đô thị dựa trên giao thông công cộng), cho phép hình thành các ga đô thị đông đúc và hiệu quả hơn trong tương lai.

Khu đô thị Đại học Quốc tế có diện tích gần 880 ha nằm tại xã Xuân Thới Sơn
- Để Cần Giờ không bị "bê tông hóa" và có thể thích ứng với kịch bản nước biển dâng, mô hình phát triển nào là tối ưu nhất cho khu vực này?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Cần Giờ không nên phát triển theo kiểu san lấp tràn lan mà phải đi theo mô hình các cụm đô thị tập trung như những hòn đảo giữa không gian xanh tự nhiên. Thay vì nâng nền cho toàn bộ khu vực, chúng ta chỉ nên đắp cao cốt nền cho các khu dân cư tập trung, nhà cao tầng và hạ tầng giao thông huyết mạch để đảm bảo an toàn trước kịch bản biến đổi khí hậu trong 50 đến 100 năm tới. Những phần diện tích còn lại nên để ở trạng thái tự nhiên để làm không gian xanh và mặt nước.
Nguyên tắc cốt lõi là tỷ lệ không gian xanh và mặt nước tại Cần Giờ phải chiếm từ 50% đến 60% tổng diện tích đất dự án, cao hơn hẳn so với các khu vực nội thành như quận 1 hay quận 3 trước đây. Bên cạnh đó, các khu đô thị mới này phải có khả năng tự chủ về hạ tầng, như có nhà máy lọc nước biển và trạm cung cấp điện riêng, thay vì "hút" hết nguồn lực năng lượng vốn đã eo hẹp của dân cư hiện hữu tại địa phương. Việc phát triển sinh thái phải đi đôi với sự bền vững về tài nguyên để không tạo ra xung đột lợi ích giữa cư dân mới và cũ.
- Vai trò của các tuyến đường vành đai, đặc biệt là Vành đai 4 trong việc kết nối Cần Giờ với các cực tăng trưởng khác của khu vực phía Nam là như thế nào?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Tiềm năng của Cần Giờ chỉ được giải phóng thực sự khi chúng ta hoàn thiện hệ thống kết nối vùng, mà trong đó việc khép kín đường Vành đai 4 đi qua khu vực này là chìa khóa quan trọng. Khi có Vành đai 4, từ Cần Giờ có thể kết nối thẳng đến sân bay quốc tế Long Thành và các tỉnh lân cận một cách dễ dàng mà không cần phải xuyên qua nội thành chật chội. Đây là nền tảng cốt yếu để phát triển dịch vụ logistic và kinh tế biển cho toàn vùng.
Đặc biệt, khi dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ được hình thành, đường Vành đai 4 sẽ đóng vai trò là "mạch máu" chính để lưu chuyển hàng hóa giữa cụm cảng và hệ thống sân bay, kho bãi trong khu vực. Sự kết nối đa phương thức này không chỉ giúp giảm áp lực giao thông cho TP.HCM mà còn tạo ra một hành lang kinh tế mới, biến Cần Giờ trở thành một cửa ngõ giao thương thực thụ của Việt Nam với thế giới.
- Cuối cùng, để TP.HCM có thể bứt phá thực sự trong thập kỷ tới, ông muốn gửi gắm thông điệp gì về tư duy quản trị cho các nhà hoạch định chính sách?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Tôi muốn nhấn mạnh ba trụ cột tư duy mới mà thành phố cần phải kiên trì theo đuổi: Tư duy khoa học, tư duy đa ngành và tư duy kinh tế thị trường. Mọi quyết định quy hoạch hay đầu tư phải dựa trên nền tảng dữ liệu thực tế và phân tích chuyên môn chứ không thể dựa vào ý chí chủ quan. Chúng ta cần phá bỏ sự rời rạc giữa các sở ngành thông qua cơ chế Tổ công tác để giải quyết các vấn đề đô thị một cách tổng thể và đồng bộ.
Đồng thời, trong một nền kinh tế thị trường, mọi đối tác tham gia dự án từ nhà thầu trong nước đến quốc tế đều phải là những đơn vị đáng tin cậy, làm việc dựa trên trách nhiệm đúng thời hạn và đúng chất lượng. Chúng ta không thể chấp nhận việc một tuyến metro mất 20 năm mới hoàn thành; thay vào đó, với tư duy mới và cách làm nghiêm túc, chúng ta hoàn toàn có thể đặt mục tiêu làm nhanh hơn, hiệu quả hơn để xứng tầm với một siêu đô thị hiện đại. Sự bứt phá hạ tầng chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được xây dựng trên nền tảng của sự minh bạch, khoa học và trách nhiệm với tương lai.
- Xin cảm ơn TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn về những chia sẻ thẳng thắn và góp ý thiết thực cho các dự án của Thành phố!











