Hàng Việt vào Mỹ: Tăng tốc dựng 'radar' để giữ đơn hàng
Hàng Việt vào Mỹ đang đối mặt với rủi ro chính sách chạy nhanh hơn khả năng ứng phó. Để giữ đơn hàng trong 4 tháng cuối năm, cần tăng tốc dựng “radar” nhận diện sớm biến động thuế, phòng vệ thương mại và tiêu chuẩn, qua đó kịp xoay chuyển giá, hợp đồng và thị trường.
Những tín hiệu từ thị trường Mỹ đang kém thuận lợi trong tháng 9/2026. Nhà nhập khẩu thận trọng hơn với đơn hàng, còn các nhà xuất khẩu (XK) của Việt Nam phải tính lại giá và chi phí sau các thay đổi chính sách thương mại.
Sức ép đang đi vào đơn hàng
Sức ép đã thể hiện rõ ở nhiều ngành hàng. Riêng thủy sản, XK sang Mỹ trong tháng 8 vừa qua giảm ở tôm, cá tra và cá ngừ. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng tốt, còn ASEAN duy trì tín hiệu tích cực.

Doanh nghiệp Việt trao đổi với đại diện một nhà bán lẻ hàng đầu của Mỹ, cập nhật yêu cầu mới để chủ động ứng phó biến động chính sách và giữ đơn hàng trong 4 tháng cuối năm.
Diễn biến này cho thấy hàng Việt đang đứng trước bài toán khó hơn trong những tháng cuối năm. Mỹ vẫn là thị trường chiến lược, nhưng khả năng giữ khách hàng và đơn hàng ngày càng phụ thuộc vào tốc độ phản ứng trước chính sách mới.
Cần nhắc lại, từ ngày 24/7/2026, hàng hóa Việt Nam XK vào Mỹ chịu thêm 12,5% thuế theo Mục 301 (Section 301) của Mỹ. Sau hơn một tháng áp dụng, mức thuế này bắt đầu đi vào bài toán chi phí và lựa chọn nguồn cung của nhà nhập khẩu.
Vĩnh Hoàn (VHC) là trường hợp đáng chú ý. Theo báo cáo cập nhật mới đây, Công ty Chứng khoán DSC cho biết VHC được Mỹ đưa ra khỏi phạm vi áp dụng thuế chống bán phá giá sau khi thắng tại WTO. Nhờ đó, doanh nghiệp (DN) này hưởng mức thuế 0%, tạo lợi thế đáng kể khi cạnh tranh tại thị trường
Tuy nhiên, lợi thế này đang chịu thêm sức ép từ mức thuế 12,5% theo Mục 301. Trước khi chính sách có hiệu lực, nhà nhập khẩu Mỹ đã thận trọng hơn. Theo giới phân tích, tác động của mức thuế mới đang rõ dần trong quý III/2026, khi chi phí nhập khẩu được tính toán lại.
Việt Nam nằm trong nhóm chịu thuế 12,5%, trong khi một số đối tác chịu mức 10%. Chênh lệch này tạo thêm cơ sở để nhà mua hàng tính lại hiệu quả từng nguồn cung. Với cá tra, áp lực còn đến từ cá minh thái và cá rô phi, những sản phẩm có thể thay thế trong một số phân khúc.
VHC vẫn có lợi thế tương đối nhờ thuế chống bán phá giá 0%, nhưng không thể đứng ngoài bài toán giá và đơn hàng. DSC lưu ý DN mới hoàn thành khoảng 46% kế hoạch lợi nhuận năm, trong khi chính sách thương mại đang tiếp tục tạo sức ép lên triển vọng kinh doanh.
Thuế 12,5% theo Mục 301 đang đi vào bài toán giá và lựa chọn nguồn cung của nhà nhập khẩu Mỹ, tạo thêm sức ép cho hàng Việt trong 4 tháng cuối năm.
Ở dệt may, May Sông Hồng (MSH) cũng chịu sức ép kép từ chính sách và sức mua. Theo nhận định mới đây từ Công ty chứng khoán Shinhan, nhu cầu Mỹ chưa phục hồi rõ, các thương hiệu thận trọng bổ sung tồn kho, còn lạm phát và chi phí sinh hoạt cao tiếp tục kéo giảm sức mua.
Thuế 12,5% tạo thêm áp lực lên chi phí XK, giá bán và quyết định đặt hàng. MSH vì vậy tính đến phương án chuyển một phần năng lực sang đơn hàng CMT (gia công theo đơn đặt hàng) từ khách hàng Trung Quốc, qua đó giảm áp lực từ Mỹ, duy trì công suất và hỗ trợ biên lợi nhuận.
Từ thủy sản đến dệt may, chính sách thương mại đã tác động trực tiếp đến các quyết định kinh doanh. Đó là bài toán về giá, đơn hàng và cách phân bổ năng lực sản xuất giữa các thị trường.
Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (VASEP), thách thức tại Mỹ ngày càng mang tính hệ thống. Nhà XK không chỉ đối mặt với thuế mà còn phải theo dõi chống bán phá giá, chống trợ cấp, MMPA, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật và các hạn chế thương mại mới.
Một quy định tưởng như kỹ thuật cũng có thể làm tăng chi phí tuân thủ. Thay đổi cách áp dụng thuế có thể buộc DN tính lại hợp đồng, trong khi chậm hồ sơ có thể ảnh hưởng cả chuỗi giao hàng. Chính sách vì thế không còn là câu chuyện dài hạn, mà đã trở thành biến số trực tiếp của từng đơn hàng.
Dựng “radar” để xoay chuyển sớm
Khi chi phí có thể phát sinh trước cả lúc đơn hàng được giao, việc nhận diện chính sách từ sớm trở nên đặc biệt quan trọng. Nhà XK không chỉ cần biết chính sách gì đã được ban hành, mà phải nhận diện rủi ro ngay từ khi chính sách bắt đầu hình thành.
“DN cần một hệ thống cảnh báo sớm, một “radar” chính sách để nhận diện các rủi ro đang hình thành”, ông Nguyễn Hoài Nam nói.
Thông tin đến sớm có thể quyết định việc ký hợp đồng, tăng hay giảm đơn hàng, cũng như cách phân bổ chi phí phát sinh với người mua. Nếu chờ đến khi quy định có hiệu lực, DN có thể đã chốt giá và cam kết giao hàng với những điều kiện không còn phù hợp.
“Radar” vì vậy không chỉ để biết Mỹ sắp thay đổi gì, mà phải chỉ ra thay đổi đó tác động đến sản phẩm, khách hàng và đơn hàng nào.
Với Vĩnh Hoàn, thuế chống bán phá giá 0% vẫn là lợi thế lớn, nhưng mức thuế bổ sung 12,5% theo Mục 301 đã tạo biến số mới trong bài toán giá. Với May Sông Hồng, sức mua Mỹ chưa rõ ràng khiến DN tính đến phương án chuyển một phần năng lực sang đơn hàng CMT từ khách hàng Trung Quốc.
Hai cách ứng phó cho thấy thông tin chính sách chỉ có giá trị khi đến bàn kinh doanh đủ sớm. Thay đổi về thuế, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật hay phòng vệ thương mại đều có thể kéo theo điều chỉnh giá, chi phí, quy trình và kế hoạch giao hàng.
Ông Nam nhấn mạnh, DN cần cập nhật sớm các thay đổi chính sách để chủ động ứng phó. Rủi ro có thể hình thành trước khi quy định được ban hành, nên cảnh báo sớm phải gắn với việc tính lại chi phí, rà soát hồ sơ, tiến độ giao hàng và phương án thay thế.
“Radar” chính sách giúp doanh nghiệp nhận diện sớm rủi ro, kịp tính lại chi phí và điều chỉnh giá, hợp đồng. Qua đó, các nhà xuất khẩu có thêm thời gian chuẩn bị khách hàng và thị trường thay thế khi đơn hàng từ Mỹ biến động.
Rủi ro chính sách có thể hình thành trước khi quy định được ban hành. Vì vậy, cảnh báo sớm cần gắn với việc tính lại chi phí, rà soát hồ sơ, tiến độ giao hàng và phương án thay thế. Phát hiện sớm giúp DN còn thời gian đàm phán giá, phân bổ chi phí hoặc điều chỉnh hợp đồng trước khi chốt đơn.
Ngược lại, khi khách hàng đã chuyển nguồn cung, việc giành lại đơn hàng sẽ khó hơn. “Không phải khi khách hàng chuyển sang nguồn cung khác thì chỉ cần giảm giá là có thể giành lại đơn hàng”, ông Nam lưu ý.
Thủy sản là ví dụ rõ. Tại Mỹ, hàng Việt cạnh tranh với nguồn cung lớn từ Ấn Độ và Ecuador, trong khi Indonesia cũng tăng đầu tư. Khoảng trống đơn hàng có thể nhanh chóng được đối thủ lấp vào.
Bởi vậy, giữ khách hàng cần đi cùng đa dạng hóa thị trường. Trung Quốc tăng trưởng tốt, ASEAN duy trì tín hiệu tích cực, tạo thêm hướng phân bổ đơn hàng và công suất khi Mỹ biến động. Tuy nhiên, đa dạng hóa không có nghĩa rút khỏi Mỹ.
Với sức mua lớn, Mỹ vẫn là thị trường chiến lược của hàng Việt. Trong 4 tháng cuối năm, “radar” chính sách cần được chuyển thành hành động để DN kịp điều chỉnh giá, hợp đồng và phương án thị trường. Giữ đơn hàng vì thế không chỉ là cuộc đua về giá, mà còn là tốc độ nhận diện rủi ro và xoay chuyển trước đối thủ.
Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/hang-viet-vao-my-tang-toc-dung-radar-de-giu-don-hang.html

