Hành trình làm chủ của nông dân Lâm Đồng

Những thành tựu mang lại trên lĩnh vực tam nông của 3 nơi trước đây (Lâm Đồng, Bình Thuận và Đắk Nông) trong thời gian qua có những sắc thái riêng, tùy điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết mỗi nơi. Nhưng khi hòa vào Lâm Đồng mới và đặt trong bối cảnh trước mắt xây dựng nông thôn mới hiện đại đã làm rõ hơn những nổi bật lẫn mặt chưa được cần khắc phục. Phải tiếp tục liên kết 6 nhà chặt chẽ, phải chế biến sâu nông sản... những bài toán đặt ra khiến nông dân loay hoay.

Thu hoạch hoa cúc ở xã Ka Đô

Thu hoạch hoa cúc ở xã Ka Đô

Bài 1: Khát vọng làm giàu như không tưởng từ nông nghiệp

Nông nghiệp lâu nay luôn chực chờ nhiều rủi ro từ thời tiết, giá cả… nên để làm giàu không dễ. Nhưng thực tế, tại Lâm Đồng, có nhiều nông dân đã làm giàu, nhiều vùng đất đã hóa khác từ nông nghiệp, củng cố thêm lĩnh vực được xem là trụ đỡ của nền kinh tế này.

Nhà nông nhàn rỗi

Trong khi Cầu Đất trên cao còn se lạnh, mưa bay lất phất đúng tiết trời cao nguyên tháng 8 thì qua đèo về vùng bằng phẳng Ka Đô, trời hửng nắng trong dịu mát. Có thể với thời tiết đó, cộng thêm vùng đất màu mỡ, ít bị thiên tai, ngoại trừ một số diện tích nằm ven sông Đa Nhim thi thoảng bị ngập vào mùa lũ, Ka Đô hoàn toàn là một vùng phát triển nông nghiệp thuận lợi.

Không phải ngẫu nhiên, từ những năm trước xa, Đơn Dương lúc bấy giờ chọn Ka Đô trong 10 xã, thị trấn của huyện xây dựng Cụm công nghiệp Ka Đô. Sau đó, thu hút được 3 doanh nghiệp nước ngoài vào cụm xây dựng nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu, góp thêm một kênh tiêu thụ chắc chắn cho người dân, bên cạnh các cơ sở, thương lái tiêu thụ hơn 20 loại nông sản sản xuất trên địa bàn.

Công nhân đang phân loại ớt ở Ka Đô

Công nhân đang phân loại ớt ở Ka Đô

Từ người dân có thu nhập cao nhờ thực hiện nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, hành trình xây dựng nông thôn mới (NTM) của xã cũng nổi bật, khi theo thời gian lần lượt đạt các chuẩn NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Ngay cả khi sáp nhập, Ka Đô cùng Lạc Lâm trước đây đều là xã NTM kiểu mẫu nên Ka Đô thành xã NTM kiểu mẫu duy nhất của tỉnh Lâm Đồng, với thu nhập bình quân đầu người ở xã chạm ngưỡng 92 triệu đồng/năm 2025. Thế nên, dạo một vòng quanh xã đã thấy khung cảnh của “phố trong làng và làng trong phố”…

Theo đánh giá của lãnh đạo xã Ka Đô, người dân ở xã dám nghĩ, dám làm nên thường tự tìm hiểu, học tập rồi mạnh dạn đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để bảo đảm kinh tế gia đình ngày một tốt hơn. Rồi thường sau đó, nhà nước mới quy hoạch, hỗ trợ, xây dựng hoặc mở rộng mô hình sáng tạo ra diện rộng. Hiện Ka Đô đã có 1.400 ha sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và 400 ha sản xuất nông nghiệp thông minh.

Chúng tôi được tham quan vườn trồng ớt chuông trong nhà kính của ông Ao Văn Tâm, (tại thôn Nghĩa Hiệp 2, xã Ka Đô), nơi đang sản xuất theo hướng nông nghiệp thông minh nên cảm nhận rõ sự nhàn nhã của nhà nông chuyên nghiệp, dù đang mùa thu hoạch. Với 4 ha đất trồng ớt chuông nhưng ông Tâm chỉ thuê 10 lao động để làm những công việc mà máy móc, tiến bộ kỹ thuật không thay thế được. Vườn nhà ông là nơi mà nông dân, các trường đại học thi thoảng ghé tham quan học hỏi, nhất là từ sáng kiến nuôi thiên địch có lợi.

Cây hoa cho thiên địch có lợi trú ngụ ở vườn ớt chuông tại Ka Đô.

Cây hoa cho thiên địch có lợi trú ngụ ở vườn ớt chuông tại Ka Đô.

“Tôi đã nuôi thiên địch có lợi trong nhà kính từ năm 2018 nên giảm được 50% lượng thuốc phun xịt. Nhưng loại thuốc phun, tôi mua từ những công ty uy tín, khi phun không gây chết thiên địch có lợi nên cũng sẽ không ảnh hưởng sức khỏe người. Nhờ ít chi phí, trái ớt chuông bóng, đẹp được thị trường chuộng nên cứ 1 sào, tôi lời ít nhất 100 triệu đồng/vụ 8 tháng”, ông Tâm, người bước qua tuổi 51 và ít nhất có tới 8 năm là nông dân sản xuất giỏi cấp tỉnh cho biết.

Trị hạn, nuôi biển

Cùng thời gian trên, ở phía biển của vùng Đông Nam tỉnh, cụ thể là huyện Tuy Phong trước đây, nơi được ghi nhận là đã giải khô hạn, không còn xếp sự khốc liệt đó ở vị trí nhất nước nữa thì bây giờ đang ngóng mưa để quyết định có sản xuất vụ mùa hay không. Nếu cả tháng 9, trời không mưa thì không chỉ không có nước cho sản xuất mà cả nước sinh hoạt cũng bị ảnh hưởng, phải khai thác mực nước chết của 3 hồ trên địa bàn. Tình hình diễn ra tương tự như thời điểm của 8 năm trước - năm 2018 toàn huyện Tuy Phong lúc bấy giờ cũng thiếu nước không sản xuất vụ mùa...

Hồ Sông Lòng Sông đang dần cạn nước

Hồ Sông Lòng Sông đang dần cạn nước

Còn trước đó và những năm gần đây, cả vùng Tuy Phong (bây giờ là các xã Liên Hương, Tuy Phong, Vĩnh Hảo, Phan Rí Cửa) đều sản xuất 3 vụ lúa, nhờ nguồn nước của 3 hồ thủy lợi đã được xây dựng (1999, 2006, 2013) trên địa bàn ở thế nối kết bổ sung cùng hệ thống tuyến kênh thủy lợi nội đồng kéo dài hơn 165 km. Sự nỗ lực trong nối mạng thủy lợi ở vùng “khát” nhất của vùng Bình Thuận cũ này đã đem lại kết quả nổi bật.

Đó là diện tích sản xuất nông nghiệp của các xã hiện tại đã tăng gấp 15 lần so với năm 1995. Cùng với đó, nông dân đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sử dụng ít nước như nho, táo, thanh long… và hướng đến nền nông nghiệp hiện đại, giá trị gia tăng cao. Bên cạnh cũng nhờ có nước đã thu hút các dự án trên các lĩnh vực, trong đó nổi bật là Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hàng loạt dự án điện mặt trời, điện gió, giúp người dân nơi đây có cơ hội lựa chọn công việc phù hợp, thu nhập cao hơn, khiến những vùng nông thôn ở đây đổi thay rất rõ qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp - dịch vụ.

Thu hoạch lúa hè thu gần Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân

Thu hoạch lúa hè thu gần Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân

Đó là hành trình thắng thiên nhiên ngoạn mục nhưng lắm lúc như năm nay, cũng bị phụ thuộc thiên nhiên, khi công trình chuyển nước Đại Ninh về đây, dài 42 km chưa kịp xong. Dù vậy, vụ lúa hè thu vừa gặt xong là mùa vàng với năng suất 7 tấn/ha.

Cũng ở vùng đất này, về phía biển, ghi nhận thêm chuyện thắng thiên nhiên, khi khoảng 30 nông dân xã Liên Hương tự tìm kỹ năng biến vùng biển hở, sóng gió lớn để nuôi cá. Đã nhiều năm nuôi cá mú, cá bớp, ít ai chú ý, vì nhỏ lẻ và lúc được, lúc không, nhưng bắt đầu từ năm 2024, cá nuôi ở vùng biển này được chú ý, khi thu hoạch với sản lượng lớn theo hướng công nghiệp, lợi nhuận tiền tỷ. Ngành chức năng của tỉnh đã về vùng biển Bình Thạnh chọn thực hiện mô hình nuôi biển bằng lồng HDPE và cũng đồng thời đánh thức khát vọng nuôi biển của người dân phía Đông Nam tỉnh.

Quang cảnh ở xã Ka Đô

Quang cảnh ở xã Ka Đô

Sự nỗ lực trong nối mạng thủy lợi ở vùng “khát” nhất của vùng Bình Thuận cũ này đã đem lại kết quả nổi bật.

Bích Nghị - Nguyễn Nghĩa .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/hanh-trinh-lam-chu-cua-nong-dan-lam-dong-464963.html