Hành trình trở về từ ngục tù

ĐNCT - Với bản án khổ sai chung thân trong phong trào chống thuế năm 1908, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị đày ra Côn Lôn (Côn Đảo), sau được giảm án và đến năm 1921 ra tù. Cuộc hành trình trở về từ ngục tù của cụ Huỳnh đầy bùi ngùi mà nhiều người chưa biết đến.

Một góc trung tâm cải huấn Trại Phú Hải ở Côn Đảo. Ảnh: Tư liệu

Một góc trung tâm cải huấn Trại Phú Hải ở Côn Đảo. Ảnh: Tư liệu

Không khác gì trong giấc chiêm bao

Tháng 8/1908, từ nhà lao tỉnh Quảng Nam, cụ Huỳnh bị giải đi Côn Lôn cùng với nhiều tù nhân ở các tỉnh thuộc Trung Kỳ. Còn cụ Phan Châu Trinh bị bắt ở Hà Nội, sau đưa về Huế kết án và bị đày ra Côn Lôn trước đó.

Tháng 8/1910, với sự can thiệp của Liên minh Nhân quyền Pháp và dư luận ở trong nước, cụ Phan được đưa về đất liền. Khi được tuyên bố ân xá, trước Tòa Hội đồng ở Sài Gòn, cụ Phan yêu cầu ba điều, trong đó có việc “Xin thả bọn quốc sự phạm” (Huỳnh Thúc Kháng, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử, Anh Minh xuất bản, Huế, 1958).

Tháng 4/1911, cụ Phan được sang Pháp và cụ dành thời gian cho mối quan tâm hàng đầu của mình là đấu tranh để bạn tù cùng được ân xá. Cùng Luật sư Phan Văn Trường, cụ Phan nhiều lần tiếp xúc với Liên minh Nhân quyền Pháp và ký tên gửi kiến nghị lên Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp và Toàn quyền Đông Dương Sarraut yêu cầu xét lại các bản án xử các nho sĩ Trung Kỳ.

Cụ còn biên soạn tập Trung Kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký, kể lại nỗi oan của các sĩ phu, trong đó có cụ Huỳnh. Kết quả đến ngày 29/12/1912, Toàn quyền Đông Dương có báo cáo số 2993 gửi Bộ Thuộc địa về các biện pháp khoan hồng đối với người bản xứ bị án sau các sự kiện Trung Kỳ năm 1908. Theo đó, nhiều tù nhân được ra tù hoặc giảm án, trong đó ở nhà lao Côn Lôn có 46 người, thì 12 người được xóa hẳn án, còn lại 31 người được giảm từ khổ sai chung thân xuống còn 9 năm hay 13 năm khổ sai (Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Tập 1 (quyển 3), NXB Đà Nẵng, 2001, tr.182).

Còn trong tác phẩm Thi tù tùng thoại (NXB Văn hóa - Thông tin, 2001), cụ Huỳnh cho biết đến năm 1913, giấy ân xá đến Côn Lôn, những người có án 9 năm đều được tha về, còn bản thân được giảm xuống 13 năm.

Năm 1921, hạn giảm án đến, cùng được trả tự do lần với cụ Huỳnh còn có các cụ Ngô Đức Kế (hiệu Tập Xuyên), Đặng Nguyên Cẩn (hiệu Thai Sơn), Trần Kỳ Phong (hiệu Nghĩa Bình). Tàu về đến Sài Gòn, các cụ đến sở Liêm phóng chụp lại ảnh. Trong thời gian ba, bốn ngày lưu lại nơi đây, các cụ rủ thăm phố phường; lần đầu đến nên các cụ cảm nhận như được đến một xứ lạ.

Tuy nhiên, giữa không gian xa lạ ấy, một đêm bên bờ sông, cụ Huỳnh và cụ Ngô Đức Kế được gặp Nguyễn Chí Tín là bạn tù, đã hai lần đày ra Côn Lôn và đã về trước. Nguyễn Chí Tín là con rể cụ Cử Lương Văn Can, người sáng lập trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội. Ông này sống ở Nam Vang (Campuchia), mở hiệu buôn và sang Sài Gòn mua hàng. Gặp nhau, các cụ “ngó nhau cùng cười, không khác gì trong giấc chiêm bao”(Thi tù tùng thoại, tr. 328).

Phân đôi kẻ đường, không khỏi ngậm ngùi

Từ Sài Gòn, các cụ tiếp tục theo tàu ra Cửa Hàn (Đà Nẵng). Tại chân tàu, các cụ được lính cảnh sát đem thuyền ra dẫn vào sở cảnh sát, sáng hôm sau được dẫn đi chụp ảnh một lần nữa.

Cụ Huỳnh rất xúc động khi về chính nơi mà 12 năm trước mình đã xuất phát ra đảo: “Tính từ ngày 15/8 năm Mậu Thân (1908) ở Cửa Hàn xuống tàu đi Côn Lôn, nay ở Côn Lôn về Cửa Hàn vào tháng Ba (quên ngày), năm Tân Dậu (1921). Cách biệt núi Ngũ Hành Sơn đã trên 12 năm (tổng số 13 năm mà có giam nhà lao tỉnh nhà 6 tháng)” (Thi tù tùng thoại, tr.330).

Ở Cửa Hàn một đêm, sáng hôm sau, các cụ được cảnh binh đưa lên xe hỏa ra Huế và đến văn phòng tòa Liêm phóng. Tại đây, các cụ gặp Sony là quan đầu tòa Liêm phóng đã đứng sẵn. Lúc cụ Huỳnh bị giam ở Hội An, Sony là quan Một, cai quản ngục nên khi vừa nhìn thấy cụ, đã liền nói: “Ông bạn già 1908!”.

Xong việc, Sony cho lính đưa các cụ sang Hộ thành và đưa đi yết quan Cơ mật cùng quan Thượng thư các Bộ, rồi sang yết quan Khâm sứ Trung Kỳ. Cụ Huỳnh còn nhớ trong hai ngày đó, nghe tin, “các bạn đồng châu làm quan cùng bạn đồng niên Hương Hội đến Hộ thành thăm hỏi (Huỳnh Thúc Kháng Tự truyện, Anh Minh, Huế xuất bản, 1963).

Các cụ cũng “Thểnh thoảng mới gặp một vài người có quen mà họ cũng giả bộ ngơ ngác, như sợ mình đến đem họa cho họ, thành chúng tôi không vào nhà nào. Kể, tôi biệt kinh thành Huế năm 1905, nay 1921 mới thấy một lần, quang cảnh khác xưa…” (Thi tù tùng thoại, tr.332).

Sáng ngày thứ ba, tại ga Huế. Cụ Ngô Đức Kế và cụ Đặng Nguyên Cẩn lên tàu về Hà Tĩnh, Nghệ An, còn cụ Huỳnh và cụ Trần Kỳ Phong vào Quảng Nam. Cuộc chia tay giữa các cụ đầy bùi ngùi và được cụ Huỳnh ghi lại: “Mười mấy năm chung giường kề gối, nay phân rẽ đôi đường, không khỏi ngậm ngùi”.

Trở lại quê hương

Về đến Hội An, cụ Huỳnh vào yết Công sứ Pháp, còn cụ Trần Kỳ Phong tiếp tục về Quảng Ngãi. Yết xong, cụ Huỳnh lên yết các quan tỉnh tại tỉnh thành La Qua, ở đó một ngày, hôm sau lên xe về ngay quê.

Theo lời cụ Huỳnh, việc ra tù và đi lại là theo hướng dẫn quan người Pháp, còn quan lại Nam triều chỉ biết các cụ ra tù nhưng không rõ thời gian cụ thể nên khi cụ về đến quê, tất cả đều ngạc nhiên và với cụ sau 13 năm cách biệt, quê hương đã quá nhiều đổi thay, kể cả việc lập huyện Tiên Phước năm 1916.

“Bọn chúng tôi về, ngày đi tàu đi xe, đều do quan tòa Tây, quan Nam chỉ biết bọn tù Côn Lôn có mấy người được tha về mà không rõ về ngày nào. Vì thế phủ, huyện, tổng, lý và người nhà không biết. Tôi từ Tòa, Tỉnh về đến huyện Tiên Phước (lúc tôi đi chưa có huyện này, sau mới đặt), vào huyện rồi về nhà, người trong nhà thấy ngạc nhiên như thấy chiêm bao”. Cụ Huỳnh còn viết: “Trong chốc lát, bà con làng xóm nghe tôi về, chạy tới nượp nượp” (Thi tù tùng thoại, tr. 336).

Như vậy, cuộc hành trình trở về từ ngục tù của cụ Huỳnh phải trải qua nhiều chặng và thủ tục khắt khe, khép lại bao nỗi gian truân và từ đây cuộc đời cụ bước sang cuộc hành trình mới để tiếp tục thực hiện những hoài bão còn dang dở của mình như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập…”

PHAN XUÂN QUANG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/hanh-trinh-tro-ve-tu-nguc-tu-3353326.html