Hiến pháp năm 1946 - tầm vóc tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước thực sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
Tám mươi năm trước, trong những ngày đầu xây dựng chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Quốc hội đặt nền móng cho một Nhà nước dân chủ, trong đó Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực. Bằng những quy định tiến bộ, vượt trước thời đại, Hiến pháp năm 1946 không chỉ thể chế hóa khát vọng độc lập, tự do mà còn kết tinh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ, quyền con người, trách nhiệm của chính quyền và sự kiểm soát quyền lực.
Tám thập niên đã qua, những giá trị ấy vẫn là nền tảng tư tưởng, chính trị và pháp lý quan trọng trong hành trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hướng đến mục tiêu cao nhất: phục vụ Nhân dân, vì hạnh phúc của Nhân dân.
Từ những điều khoản đi trước thời đại đến triết lý quyền lực thuộc về Nhân dân
Ngày 9/11/1946, Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong bối cảnh đất nước vừa giành độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng pháp lý cho một chế độ mới. Trong đó, Nhân dân là chủ thể của quyền lực, chính quyền do dân lựa chọn và vì lợi ích của dân.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Hiến pháp năm 1946. Ảnh: TL
Tư tưởng ấy được thể hiện ngay trong Lời nói đầu với ba nguyên tắc: đoàn kết toàn dân; bảo đảm các quyền tự do dân chủ; xây dựng chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của Nhân dân. Đặc biệt, Điều 1 khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam…”. Đây chính là hạt nhân tư tưởng về Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân: quyền lực nhà nước bắt nguồn từ Nhân dân, được Nhân dân trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân.
Không dừng ở tuyên ngôn, Hiến pháp năm 1946 cụ thể hóa quyền làm chủ bằng những quy định tiến bộ. Các Điều 6, 7, 9 xác lập quyền bình đẳng, quyền tham gia chính quyền và khẳng định phụ nữ ngang quyền với nam giới. Các Điều 8, 13, 14, 15 thể hiện trách nhiệm chăm lo dân tộc thiểu số, người lao động, người già, người khuyết tật, trẻ em và bảo đảm cơ hội học tập cho người nghèo. Quyền con người vì thế không chỉ là quyền chính trị, dân sự mà còn gắn với đời sống, lao động, học tập và an sinh.
Đặc biệt, Nhân dân được trực tiếp thực hiện quyền lực thông qua bầu cử phổ thông, tự do, trực tiếp, bỏ phiếu kín (Điều 17); quyền bầu cử từ 18 tuổi, không phân biệt nam, nữ (Điều 18); quyền bãi miễn đại biểu và phúc quyết những vấn đề hệ trọng của đất nước (Điều 20, 21). Trong tổ chức quyền lực, Hiến pháp xác định Nghị viện do dân bầu, đại diện cho toàn thể Nhân dân và hoạt động công khai (Điều 22, 24, 25, 30).

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc hội thành lập sau Tổng tuyển cử, ngày 6/1/1946. Ảnh TL
Cùng với đó là những cơ chế kiểm soát quyền lực, đề cao trách nhiệm giải trình: Chính phủ chịu sự kiểm soát, phê bình của Ban thường vụ Nghị viện; bộ trưởng phải chịu trách nhiệm, trả lời chất vấn trong thời hạn quy định (Điều 36, 53, 55). Ở địa phương, HĐND do Nhân dân trực tiếp bầu ra, quyết nghị những vấn đề của địa phương và giám sát trách nhiệm của cơ quan hành chính (Điều 58–60). Các quy định về xét xử công khai, quyền bào chữa, nghiêm cấm tra tấn và nguyên tắc thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật (Điều 67–69) tiếp tục khẳng định tinh thần thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền con người.
Theo đảng viên Lê Văn Huân, phường Ea Kao, Đắk Lắk: giá trị cốt lõi của Hiến pháp năm 1946 là đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm của quyền lực nhà nước. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải thực sự gần dân, lắng nghe, tôn trọng và giải quyết những kiến nghị chính đáng của người dân; quyền lực được giao phải luôn gắn với trách nhiệm phục vụ Nhân dân.
Từ những điều khoản của Hiến pháp năm 1946 cách đây 80 năm, có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn là nền tảng định hướng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam: mọi quyền lực thuộc về Nhân dân, mọi hoạt động công quyền phải vì lợi ích của Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.
Kế thừa, phát triển tư tưởng vì Nhân dân trong thực tiễn hôm nay
80 năm nhìn lại, tư tưởng tiến bộ của Hiến pháp năm 1946 tiếp tục được kế thừa và phát triển trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu Điều 1 Hiến pháp năm 1946 khẳng định quyền bính thuộc về toàn thể Nhân dân thì Điều 2 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục hiến định: Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Điều 3, Điều 6 và Điều 8 nhấn mạnh trách nhiệm bảo vệ quyền con người, bảo đảm quyền làm chủ và yêu cầu cán bộ, công chức tận tụy phục vụ, chịu sự giám sát của Nhân dân.

Chi bộ tổ dân phố 8 Thuận Lộc, phường Nam Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh sinh hoạt chuyên đề học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. Ảnh: Bình Nguyên
Từ một đất nước nghèo nàn, vừa giành độc lập, Việt Nam đã vươn lên phát triển, hội nhập sâu rộng; hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện. Cải cách hành chính, chuyển đổi số và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp vận hành từ ngày 1/7/2025 tiếp tục tạo chuyển biến trong tổ chức bộ máy, hướng đến phục vụ người dân tốt hơn.
Tuy nhiên, thước đo của Nhà nước vì dân không chỉ là hiệu quả vận hành bộ máy hay sự hoàn thiện thể chế, quan trọng hơn là quyền làm chủ của Nhân dân được bảo đảm thực chất; tiếng nói, kiến nghị của người dân có được lắng nghe và giải quyết kịp thời hay không.
Từ thực tiễn TDP 8 Thuận Lộc, phường Nam Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, đảng viên Trần Phú cho rằng: quyền làm chủ phải được phát huy ngay từ khu dân cư. Những việc chung như lựa chọn Tổ trưởng tổ dân phố, các khoản đóng góp, xây dựng đời sống văn hóa, bảo vệ môi trường cần được công khai, bàn bạc dân chủ. Chi bộ lãnh đạo nhưng không làm thay quyền lựa chọn của Nhân dân; mỗi đảng viên phải gương mẫu, lắng nghe và tôn trọng ý kiến cộng đồng. Trong công tác chuẩn bị bầu Tổ trưởng tổ dân phố, chi bộ định hướng, giới thiệu nhân sự đủ tiêu chuẩn nhưng phải tôn trọng quyền lựa chọn của người dân, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Người được lựa chọn phải có uy tín, trách nhiệm và khả năng tập hợp Nhân dân.
Từ những việc cụ thể ấy, có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân phải được hiện thực hóa bằng một chính quyền gần dân, trọng dân; cán bộ tận tụy giải quyết công việc, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; mọi vấn đề liên quan đến cộng đồng đều được bàn bạc, công khai và tôn trọng ý kiến người dân.
80 năm trước, Hiến pháp năm 1946 đã xác lập chuẩn mực lớn: quyền lực thuộc về Nhân dân, chính quyền phải phục vụ Nhân dân. Hôm nay, đó vẫn là thước đo bản chất, năng lực và uy tín của Nhà nước. Bởi sức mạnh của chính quyền không chỉ nằm ở quyền lực được Hiến pháp trao, mà còn ở niềm tin Nhân dân gửi gắm.
