Hiện thực hóa khát vọng đưa giáo dục Việt Nam bứt phá

Ngành Giáo dục bước vào năm 2026 với một điểm tựa đặc biệt quan trọng: Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Toàn ngành sử dụng một bộ sách giáo khoa từ năm học 2026-2027. Ảnh: Lê Nguyễn.

Toàn ngành sử dụng một bộ sách giáo khoa từ năm học 2026-2027. Ảnh: Lê Nguyễn.

Nghị quyết đã xác định hệ thống nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đặt mục tiêu đến năm 2045 xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất lượng, đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới.

Cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết, ngành Giáo dục đã khẩn trương triển khai nhiều công việc cụ thể với quyết tâm tạo bước đột phá trong phát triển giáo dục và đào tạo.

Những định hướng lớn đang đi vào cuộc sống

Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết, thu hút sự quan tâm lớn của xã hội, là chủ trương một bộ sách giáo khoa thống nhất trên toàn quốc, được triển khai từ năm học 2025 - 2026. Để kịp thời triển khai theo lộ trình, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức “chốt” bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” của Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam làm bộ sách sử dụng thống nhất toàn quốc.

Đây không chỉ là giải pháp nhằm bảo đảm chất lượng, tính ổn định và sự thống nhất của chương trình, mà còn góp phần giảm áp lực cho giáo viên và gia đình người học, tạo công bằng trong tiếp cận tri thức của học sinh giữa các vùng, miền.

Nâng cao năng lực cho giáo viên tiếng Anh là "chìa khóa" đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Ảnh: Lê Nguyễn.

Nâng cao năng lực cho giáo viên tiếng Anh là "chìa khóa" đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Ảnh: Lê Nguyễn.

Cùng với đó, định hướng đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong các nhà trường được xem là bước đi mang tính chiến lược nhằm nâng cao năng lực hội nhập của thế hệ trẻ. Việc triển khai lộ trình này không chỉ dừng ở tăng số tiết học hay chuẩn đầu ra, mà gắn với đổi mới phương pháp giảng dạy, mở rộng môi trường thực hành, hợp tác quốc tế và ứng dụng công nghệ trong học tập ngoại ngữ.

Một trọng tâm lớn khác đang định hình rõ nét là chuyển đổi số trong giáo dục, với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái số phục vụ quản lý, dạy và học.

Từ việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành đến triển khai học liệu số, hệ thống hỗ trợ dạy - học trực tuyến, nhiều địa phương đã bước đầu hình thành môi trường giáo dục hiện đại, linh hoạt, tạo điều kiện để người học tiếp cận tri thức không giới hạn. Với giáo viên, chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà còn là cơ hội đổi mới phương pháp giảng dạy, cá thể hóa quá trình học tập của học sinh theo năng lực và nhu cầu riêng.

Song song với các giải pháp về chương trình và phương thức giáo dục, Nghị quyết số 71-NQ/TW đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức.

Việc mở rộng hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp, đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp và đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động đang từng bước tạo ra sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học đã chủ động đổi mới chương trình đào tạo theo hướng thực hành, tăng cường trải nghiệm thực tế cho sinh viên, góp phần hình thành đội ngũ lao động trẻ có kỹ năng, tác phong chuyên nghiệp và năng lực thích ứng cao.

Các định hướng trong Nghị quyết cũng hướng tới xây dựng môi trường giáo dục nhân văn, kỷ cương, sáng tạo; chú trọng hình thành phẩm chất, kỹ năng sống, tinh thần trách nhiệm xã hội ở học sinh. Đây là nền tảng quan trọng để đào tạo thế hệ công dân mới - vừa có tri thức, vừa có bản lĩnh, ý thức cống hiến cho cộng đồng và Tổ quốc.

Nhìn từ những nội dung đang được triển khai, có thể thấy Nghị quyết số 71-NQ/TW đang bước vào giai đoạn hiện thực hóa bằng các giải pháp cụ thể, trực tiếp tác động đến người học. Theo nhận định của các chuyên gia, Nghị quyết đã tạo ra khung chính sách đủ mạnh để giáo dục Việt Nam đổi mới toàn diện, hướng tới chất lượng và tính bền vững. Cũng từ đó, niềm tin về khả năng bứt phá của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới được củng cố bằng những chuyển động thực tế, khởi nguồn từ những đổi thay cụ thể trong mỗi nhà trường, mỗi gia đình học sinh.

Nền tảng cho khát vọng bứt phá

Những định hướng, mục tiêu lớn được xác lập trong Nghị quyết số 71-NQ/TW không chỉ dựa trên kỳ vọng, mà được nâng đỡ bởi nền tảng thành tựu rõ rệt của ngành Giáo dục trong năm 2025.

Đây là năm khẳng định năng lực tổ chức hệ thống, chất lượng nguồn nhân lực giáo dục và sức bật của quá trình đổi mới trên nhiều phương diện, từ giáo dục phổ thông, giáo dục mũi nhọn đến giáo dục đại học, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Năm 2025 đánh dấu việc hoàn thành trọn vẹn chu trình triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 từ lớp 1 đến lớp 12, cùng việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông đầu tiên dành cho học sinh học theo chương trình mới, đồng thời tổ chức thi cho học sinh học theo Chương trình giáo dục phổ thông 2006.

Năm 2025 còn tiếp tục ghi nhận những thành tích nổi bật trên đấu trường quốc tế. Bảy đoàn với 37 lượt học sinh tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế và khu vực đều đoạt giải, trong đó có 13 Huy chương vàng, 16 Huy chương bạc và 8 Huy chương đồng, tăng 1 Huy chương vàng và 1 Huy chương bạc so với năm 2024 và đạt mức cao nhất trong nhiều năm.

Lần đầu tham dự Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế, 8 thí sinh Việt Nam đều đoạt giải. Ảnh: MOET.

Lần đầu tham dự Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế, 8 thí sinh Việt Nam đều đoạt giải. Ảnh: MOET.

Lần đầu tiên tham dự Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế, cả 8 thí sinh Việt Nam đều đoạt giải, đưa đội tuyển xếp thứ 4/60 quốc gia tham dự. Thành tích cao nhất từ trước đến nay tại hội thi Khoa học kỹ thuật quốc tế với 2 giải Nhì, 1 giải Ba, 3 giải Tư và 4 giải Đặc biệt tiếp tục khẳng định năng lực sáng tạo của học sinh Việt Nam, đồng thời cho thấy hệ sinh thái phát hiện và bồi dưỡng tài năng trẻ đang vận hành hiệu quả.

Giáo dục đại học năm 2025 cũng ghi nhận bước tiến quan trọng cả về chất lượng đào tạo và vị thế quốc tế. Lần đầu tiên, 16 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có tên trong bảng xếp hạng The Impact Rankings; tỷ lệ giảng viên có học hàm, học vị giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đạt trên 35%; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng mạnh, cùng với việc mở rộng đào tạo các lĩnh vực then chốt như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ 4.0, đường sắt tốc độ cao.

Trường đại học mở rộng các lĩnh vực then chốt như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo... Ảnh: VNU.

Trường đại học mở rộng các lĩnh vực then chốt như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo... Ảnh: VNU.

Kết quả tuyển sinh các ngành STEM tăng, điểm chuẩn nhóm ngành sư phạm và khoa học - kỹ thuật tăng, phản ánh tín hiệu tích cực về chất lượng đào tạo và niềm tin xã hội. Mô hình hợp tác ba nhà giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý được triển khai sâu rộng hơn, góp phần nâng tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên môn.

Chuyển đổi số trong giáo dục tiếp tục tạo dấu ấn đậm nét. Năm 2025, cơ sở dữ liệu ngành đã kết nối 24,55 triệu hồ sơ với cơ sở dữ liệu quốc gia; 100% thí sinh đăng ký dự thi trung học phổ thông và xét tuyển đại học, cao đẳng hoàn toàn trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Hơn 10 triệu học bạ và hơn 1,5 triệu văn bằng tốt nghiệp trung học phổ thông đã được số hóa, đồng bộ với VNeID, nền tảng triển khai đại trà học bạ số và văn bằng số trên toàn quốc từ năm học 2025 - 2026.

Cùng với đó, việc ban hành Đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045, cũng như thí điểm giáo dục trí tuệ nhân tạo vào dạy học, cho thấy bước chuyển mạnh mẽ từ chủ trương sang hành động trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho kỷ nguyên số.

Trên nền tảng những kết quả đã đạt được, năm 2026, các mục tiêu và khát vọng phát triển giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 71-NQ/TW đang được hiện thực hóa mạnh mẽ hơn bằng các chương trình hành động cụ thể, tạo niềm tin về một giai đoạn bứt phá mới của giáo dục Việt Nam.

Thống Nhất

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/hien-thuc-hoa-khat-vong-dua-giao-duc-viet-nam-but-pha-734398.html