Hồ sơ 99/2026: Những bút tích thời chiến của liệt sĩ Phạm Bá Lật, quê Thái Bình
Gần sáu mươi năm đã trôi qua, người viết những dòng chữ ấy có thể đã trở về, cũng có thể đã nằm lại một nơi nào đó trên chiến trường. Nhưng cuốn sổ của ông thì đã trở về trong hình hài một hồ sơ số hóa. Từ những trang giấy sờn rách, tên Phạm Bá Lật – Ngọc Hùng lại được đọc lên. Và khi tên một người lính được gọi đúng, quê hương được xác định, người thân được tìm thấy, lịch sử không còn là những con số vô danh. Đó chính là sự tri ân thiết thực, nhân văn và bền bỉ nhất đối với những người đã gửi tuổi xuân của mình vào cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.


Giữa hàng triệu trang tài liệu chiến tranh đang được lưu giữ tại Hoa Kỳ, Hồ sơ CDEC F034604521219 hiện lên như một “hòm ký ức” của những người lính Việt Nam trên chiến trường năm 1968. Nổi bật trong đó là cuốn Sổ nghị quyết mang tên quân nhân Phạm Bá Lật, bí danh Ngọc Hùng, quê tỉnh Thái Bình cũ, cùng đơn xin vào Đảng, giấy giới thiệu, thư từ và nhiều ghi chép cá nhân. Hồ sơ do Nguyễn Hồng Duy phát hiện và đang tiếp tục nghiên cứu nhằm tìm kiếm thân nhân, phục dựng danh tính và hành trình của người lính.
1. Cuốn sổ mang tên Phạm Bá Lật
Hồ sơ CDEC F034604521219 gồm 36 trang tư liệu số hóa, phần lớn là ảnh chụp những giấy tờ và sổ tay viết bằng tiếng Việt. Theo phiếu thẩm định của phía Hoa Kỳ ở đầu hồ sơ, tài liệu được thu giữ ngày 28/9/1968, sau đó chuyển đến Trung tâm Khai thác Tài liệu Hỗn hợp – CDEC ngày 3/11/1968.
Đơn vị thực hiện việc thu giữ được ghi là Đại đội C, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 503, Lữ đoàn Dù 173 của Hoa Kỳ. Địa điểm trên phiếu chỉ được thể hiện bằng tọa độ quân sự “BR813650”. Việc giải mã tọa độ này, đối chiếu với bản đồ hành quân, nhật ký tác chiến và hồ sơ đơn vị trong tháng 9/1968 đang được nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Duy tiếp tục thực hiện. Đây có thể là chìa khóa quan trọng để xác định chính xác địa bàn mà những tài liệu của bộ đội Việt Nam đã rời khỏi chủ nhân hơn nửa thế kỷ trước.





Trong số những giấy tờ được chụp lại, đáng chú ý nhất là một cuốn sổ có dòng chữ trang trọng: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”, phía dưới ghi “Sổ nghị quyết”. Phần lý lịch cho biết chủ nhân cuốn sổ là Phạm Bá Lật, bí danh Ngọc Hùng, sinh ngày 10/10/1940; quê quán và nơi cư trú thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình. Một số địa danh cấp thôn trong ảnh chụp chưa thật rõ nét nên cần tiếp tục đối chiếu với hồ sơ hộ tịch và địa giới hành chính cũ của tỉnh Thái Bình.
Cuốn sổ còn ghi ngày quân nhân Phạm Bá Lật vào Đoàn là 12/10/1960, vào Đảng ngày 30/3/1963; dân tộc Kinh, tôn giáo lương, trình độ văn hóa lớp 6. Những dòng chữ tưởng chừng khô khan ấy, sau gần sáu thập niên, lại trở thành những dấu vân tay của lịch sử, giúp chúng ta nhận ra một con người cụ thể giữa đội ngũ hàng triệu người đã đi qua chiến tranh.
Tài liệu thẩm định của CDEC cho biết Phạm Bá Lật từng sử dụng bí danh Ngọc Hùng. Theo cách diễn giải của phía Hoa Kỳ, ông có thời gian phục vụ tại một đơn vị thuộc Sư đoàn 320, xuất ngũ vào tháng 4/1962 và được gọi trở lại quân đội vào tháng 8/1967. Hồ sơ cũng nhắc đến các ký hiệu đơn vị như C3, D702 và F350. Tuy nhiên, đây là cách nhận dạng, phiên dịch và quy chiếu của cơ quan khai thác tài liệu phía Hoa Kỳ trong chiến tranh, có thể có sai số. Vì vậy, tên đơn vị chính thức của quân nhân Phạm Bá Lạt vẫn cần được đối chiếu với hồ sơ quân nhân do các cơ quan chức năng Việt Nam lưu giữ.
2. Một lá đơn viết giữa chiến trường
Trong hồ sơ còn lưu hình ảnh “Đơn xin ra nhập Đảng”, phía trên ghi nơi nhận: “Chi ủy và chi bộ C3, D702, F350”; người viết là Phạm Bá Lật. Lá đơn được viết ngay ngắn, nắn nót bằng mực trên giấy có dòng kẻ. Giữa hoàn cảnh chiến trường gian khổ, người lính ấy vẫn dành những trang viết trang trọng nhất để nói về nhận thức, lý tưởng và nguyện vọng được đứng trong hàng ngũ của Đảng.
Phần cuối lá đơn đề ngày 11/2/1968 và có chữ ký “Phạm Bá Lật”. Thời điểm ấy chỉ cách Tết Mậu Thân chưa lâu, khi chiến sự diễn ra ác liệt trên nhiều chiến trường. Bởi thế, lá đơn không chỉ là một văn bản chính trị. Đó còn là lời tự bạch của một người lính đang sống giữa lằn ranh sinh tử, tự đặt mình trước trách nhiệm với đồng đội, đơn vị và đất nước.



Một giấy giới thiệu đề ngày 24/8/1967, mang dấu của tổ chức Đảng thuộc huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình, cũng được lưu trong hồ sơ. Nội dung cho biết quân nhân Phạm Bá Lật đã được chuyển sinh hoạt Đảng để tiếp tục công tác tại đơn vị mới. Bên cạnh đó là một quyết định liên quan đến việc đề bạt, bố trí nhiệm vụ, đề ngày 10/11/1967. Những tài liệu này cho thấy trước khi vào chiến trường, con đường công tác và sinh hoạt tổ chức của ông đã được ghi nhận tương đối đầy đủ.
Đặc biệt xúc động là những bút tích giới thiệu những người thân trong gia đình. Gần 60 năm rồi, ai còn sống và ai đã mất? Phiếu thẩm định của CDEC cũng nhắc đến một phong bì thư ghi người gửi là Phạm Bá Lật, hòm thư quân đội “16509-L.T”, gửi tới bà Phạm Thị Gái. Chỉ một cái tên còn lại trên phong bì cũng có thể trở thành đầu mối nối hồ sơ chiến trường với một gia đình ở quê nhà.
Cuốn sổ của Phạm Bá Lật không chỉ chứa nghị quyết, nội dung học tập chính trị và những nhận xét về công tác. Trong đó còn có các ghi chép về quá trình hành quân, sinh hoạt, tổ chức lực lượng, tình hình đơn vị và những công việc hằng ngày. Có trang ghi lại các mốc thời gian từ tháng 2 đến tháng 4/1968; có trang thống kê quân số, vũ khí và trang bị; có những dòng nhắc đến địa danh trên đường hành quân. Đây là nguồn tư liệu có giá trị để phục dựng tuyến đường, đơn vị và những người đã cùng ông đi qua chiến trường.
Hồ sơ còn chứa thông tin về một số quân nhân khác. Trong đó có Nguyễn Văn Gia, sinh năm 1936, quê xã Thụy Hồng, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình cũ, nhập ngũ khoảng tháng 8/1965; Đỗ Đức Hậu, còn có tên hoặc bí danh Xuân Thụy, quê Giao Nhân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cũ, nhập ngũ ngày 8/2/1964, vào chiến trường ngày 8/2/1965 và được ghi nhận là chiến sĩ thông tin. Một bảng danh sách khác có tên 11 cán bộ, chiến sĩ của đơn vị. Những tên tuổi này đều cần được bóc tách, đối chiếu riêng, bởi phía sau mỗi cái tên có thể là một gia đình vẫn đang tìm kiếm tin tức người thân.
3. Trả lại tên người cho những trang giấy cũ
Hồ sơ CDEC F034604521219 chưa cho phép kết luận quân nhân Phạm Bá Lật đã hy sinh, bị thương, mất tích hay tiếp tục chuyển sang một đơn vị khác sau ngày 28/9/1968. Phiếu thẩm định chỉ xác nhận thời điểm, tọa độ và đơn vị phía Hoa Kỳ thu giữ tài liệu; không nói rõ những giấy tờ ấy được lấy trong hoàn cảnh nào và chủ nhân của chúng khi đó ra sao.
Đây là ranh giới cần được tôn trọng trong quá trình nghiên cứu hồ sơ chiến tranh. Một cuốn sổ được thu giữ không đồng nghĩa với một chứng cứ hy sinh. Muốn phục dựng chính xác số phận của quân nhân Phạm Bá Lật, cần tiếp tục đối chiếu hồ sơ quân lực, danh sách liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, quân nhân phục viên, chuyển ngành; đồng thời tra cứu lịch sử các đơn vị mang phiên hiệu được ghi trong hồ sơ và xác định tọa độ BR813650 trên bản đồ quân sự năm 1968.


Giá trị lớn nhất của Hồ sơ CDEC F034604521219 chính là việc bảo tồn được những chứng tích tưởng đã mất. Nếu không có quá trình số hóa, lưu trữ và công bố các tài liệu CDEC, cuốn Sổ nghị quyết, lá đơn xin vào Đảng, giấy chuyển sinh hoạt, phong thư gửi bà Phạm Thị Gái và những dòng nhật ký hành quân có thể vẫn nằm im trong kho tư liệu, không bao giờ được người Việt Nam biết đến.
Từ nguồn tư liệu được tiếp cận trong khuôn khổ hoạt động nghiên cứu, tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh, nhà nghiên cứu Hồng Duy đã phát hiện hồ sơ và đang bóc tách từng chi tiết. Công việc ấy không chỉ là đọc lại chữ viết trên những trang giấy đã bạc màu. Đó là hành trình trả lại tên tuổi, quê hương và quan hệ gia đình cho từng con người; đưa những chứng tích từng bị xem như tài liệu tình báo trở về với ý nghĩa nguyên thủy của chúng – kỷ vật của người lính Việt Nam.
Đồng thời, thân nhân các quân nhân Nguyễn Văn Gia, quê Thụy Hồng, Thụy Anh, Thái Bình và Đỗ Đức Hậu, bí danh hoặc tên gọi Xuân Thụy, quê Giao Nhân, Giao Thủy, Nam Định cũ, cũng được mong đợi lên tiếng để cùng làm sáng tỏ hồ sơ.
Theo thông tin từ chị Nguyễn Thanh Thủy (điều phối viên nhóm Gắn kết cộng đồng và lịch sử truyền khẩu phía bắc của Dự án TTU-VWAI): Hài cốt của liệt sĩ Phạm Bá Lật đã được tìm thấy và đưa từ Phú Yên về quê. Đây cũng là một trong những liệt sĩ còn lưu giữ được số nhật ký có nhiều trang nhất.
Hà Nội, 17/9/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên Dự án TTU–VWAI)

