Hồ sơ số 48/2026: Từ Hồ sơ về Bệnh viện K76A, cần mở rộng hành trình tìm kiếm hơn 7.000 liệt sĩ Quân y miền B2

Từ danh sách 34 bệnh viện và 13 đội điều trị, có thể xây dựng một bản đồ số nhiều lớp. Mỗi điểm trên bản đồ không chỉ ghi tên bệnh viện mà còn thể hiện các lần di chuyển, thời gian hoạt động, những đơn vị được cứu chữa, số người hy sinh và tình trạng quy tập. Khi kết hợp với ảnh vệ tinh, bản đồ quân sự cũ, tọa độ, hồ sơ đối phương và lời kể nhân chứng, các khu vực nghi vấn có thể được thu hẹp đáng kể. Bản thuyết minh ghi '1.900 thương bệnh binh và trên 100 nhân viên quân y' tại 13 đội điều trị, trong khi tổng số cuối tài liệu tương ứng với việc cộng thêm khoảng 2.000 thương bệnh binh và 100 nhân viên quân y. Vì vậy, con số 7.195 cần được coi là số liệu do tác giả tổng hợp tại thời điểm lập tài liệu, chưa phải kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng, nhưng rất đáng để chúng ta lưu tâm, nhất là trong 'Chiến dịch 500 ngày đêm...'.

Việc Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” bàn giao hồ sơ, sơ đồ và tọa độ chôn cất 21 liệt sĩ tại Bệnh viện K76A cho Ban Chỉ đạo 515 TP.HCM đã mở thêm một hướng tìm kiếm giàu hy vọng. Đặc biệt, bản tổng hợp do Đại tá, TS, BS, TTND Nguyễn Sanh Dân để lại đã ghi rõ phiên hiệu 34 bệnh viện, 13 đội điều trị cùng số thương bệnh binh và nhân viên quân y hy sinh. Đây có thể trở thành “bản đồ chỉ dẫn” giúp hàng nghìn gia đình tìm kiếm người thân.

1- Khi bản đồ bệnh viện trở thành bản đồ tìm người

Trong chiến tranh, bệnh viện dã chiến không có cổng lớn, biển tên hay những dãy nhà kiên cố. Đó thường là những lán nhỏ ẩn dưới tán rừng, những căn hầm nửa chìm nửa nổi; bàn mổ ghép bằng tre, nứa; ánh sáng trong ca phẫu thuật đôi khi chỉ đến từ đèn dầu, đèn pin hoặc một đoạn nến ngắn.

Nơi ấy, giữa mưa bom, bão đạn và những cơn sốt rét rừng, các thầy thuốc quân y đã giành giật sự sống cho đồng đội bằng những điều kiện vô cùng thiếu thốn. Nhưng bệnh viện cũng là nơi nhiều thương binh trút hơi thở cuối cùng. Phía sau hoặc gần mỗi căn cứ bệnh viện thường hình thành một khu mai táng, có nơi được lập sơ đồ, có nơi chỉ được đánh dấu bằng một tấm gỗ, đoạn tre hay một gò đất giữa rừng.

Bệnh viện K76A là một địa chỉ như thế. Theo các tài liệu lịch sử, K76A được thành lập năm 1965, trực thuộc Đoàn 84 – Hậu cần Miền. Bệnh viện tiếp nhận, cứu chữa thương binh, bệnh binh của Trung đoàn 33; các Trung đoàn 4, 5 và 274 thuộc Sư đoàn 5; Sư đoàn 9; Tiểu đoàn 440, Tiểu đoàn 445; Đoàn 10 – Đặc công Rừng Sác cùng lực lượng bộ đội địa phương và du kích.

Mới đây, Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI) đã bàn giao cho Ban Chỉ đạo 515 TP.HCM một số tài liệu, hồ sơ chỉ dẫn khu vực chôn cất 21 liệt sĩ tại Bệnh viện K76A. Bộ hồ sơ gồm bản giấy và dữ liệu điện tử, trong đó có sơ đồ cùng tọa độ phục vụ việc đối chiếu, khảo sát thực địa.

Những ký hiệu và đường nét trên bản đồ tưởng như khô khan lại mang theo số phận của 21 con người. Mỗi vị trí được đánh dấu có thể là nơi một người lính đang nằm lại; phía sau đó là một gia đình đã chờ đợi gần 60 năm.

Cùng với việc tiếp nhận hồ sơ, Ban Chỉ đạo 515 TP.HCM đã công bố thông tin tìm kiếm những người từng công tác, chiến đấu, điều trị hoặc biết địa điểm hoạt động của Bệnh viện K76A trong giai đoạn 1965–1967. Khu vực K76A, K76B tại núi Mây Tàu, xã Hòa Hiệp hiện nay cũng được đưa vào danh sách các địa bàn trọng điểm cần khảo sát.

Từ hồ sơ của K76A, một câu hỏi lớn hơn được đặt ra: Chiến trường miền Đông Nam Bộ “gian lao mà anh dũng” từng có bao nhiêu bệnh viện, đội điều trị bí mật và còn bao nhiêu liệt sĩ nằm lại quanh những địa chỉ cứu người năm xưa?

2- Danh sách 34 bệnh viện và 13 đội điều trị Quân y Miền B2

Câu trả lời phần nào được tìm thấy trong bản tổng hợp do Đại tá, TS, BS, TTND Nguyễn Sanh Dân (1931–2023), nguyên Viện trưởng Bệnh viện K71B, nguyên Chủ nhiệm Quân y Quân khu 7, thực hiện lúc sinh thời.

Theo tài liệu này, hệ thống quân y thuộc Cục Hậu cần Quân giải phóng Miền B2 có 34 bệnh viện, thuộc 8 đoàn hậu cần khu vực.

Danh sách trong bảng tổng hợp gồm:

STT Bệnh viện STT Bệnh viện

1 K71A 18 K30B

2 K71B 19 K50

3 K71C, còn gọi K21 20 K51

4 K116 – Bệnh viện Chấn thương 21 K52

5 K76A 22 K70

6 K76B 23 D72

7 K76C 24 K73

8 K76D 25 K74

9 K76E 26 K75

10 K79A 27 K77A

11 K79B 28 K77B

12 K79C 29 K72

13 K79D 30 K81

14 K79E 31 K82

15 K23 32 K54

16 K24 33 K59

17 K25 34 K45 – chuyên khoa lao, bệnh phổi

Bên cạnh 34 bệnh viện là 13 đội điều trị cơ động, quy mô khoảng 100 giường, thuộc Phòng Quân y Miền B2:

1.Đội điều trị 1;

2.Đội điều trị 2;

3.Đội điều trị 3;

4.Đội điều trị 6;

5.Đội điều trị 7;

6.Đội điều trị 8;

7.Đội điều trị 9;

8.Đội điều trị 10;

9.Đội điều trị 110;

10.Đội điều trị 111;

11.Đội điều trị 112;

12.Đội điều trị 116;

13.Đội điều trị 114.

Các đội điều trị cơ động phục vụ nhiều chiến dịch lớn tại miền Đông Nam Bộ như Chiến dịch Bình Giã – Phước Long, Đồng Xoài, Bù Đốp, Lộc Ninh, Mậu Thân 1968, chiến dịch Đánh Căn Giăng và Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.

Mỗi đơn vị đều có hành trình riêng.

- Đội điều trị 1 từng đóng tại Bến Cát – Bình Dương;

- Đội điều trị 2 ở Long Nguyên;

- Đội điều trị 3 ở Trảng Bàng và Củ Chi;

- Đội điều trị 6 tại suối Bồ Linh;

- Đội điều trị 7 ở khu vực bắc Sông Măng.

- Đội điều trị 110, sau Chiến dịch Bình Giã – Phước Long, chuyển về Đoàn 5 và trở thành đơn vị tuyến sau của Phòng Quân y Miền.

- Đội điều trị 116 sau đó phát triển thành Bệnh viện Chấn thương K116.

Tài liệu còn ghi nhận bốn bệnh viện thuộc Ban Dân y Miền được huy động phối hợp với quân y phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968:

- Bệnh viện Quân dân y Phân khu 5;

- Bệnh viện Dân y Miền C1;

- Bệnh viện Dân y Miền C2;

- Bệnh viện Miền C3.

Riêng Bệnh viện Quân dân y Phân khu 5 có quy mô 300–400 giường, đóng tại khu vực Tây Ngự, Phước Thành; do bác sĩ Nguyễn Hoàng Dũng làm Viện trưởng, bác sĩ Lê Quang làm Viện phó. Tài liệu ghi nhận tại đây có hơn 200 thương bệnh binh và 20 cán bộ, nhân viên quân–dân y hy sinh nhưng chưa tìm thấy hài cốt.

Ngoài ra, tại sáu phân khu nội thành Sài Gòn, Gia Định và Chợ Lớn còn có hàng chục đội phẫu thuật của dân y phối hợp với quân y cứu chữa thương binh và người dân bị thương. Số người hy sinh tại các đội phẫu thuật này được nhận định là khá lớn, nhưng chưa được thống kê đầy đủ.

Như vậy, mạng lưới cứu chữa tại chiến trường B2 không chỉ gồm 34 bệnh viện và 13 đội điều trị quân y. Nếu cộng bốn bệnh viện thuộc Ban Dân y Miền, hệ thống có ít nhất 51 cơ sở điều trị cấp chiến trường, chưa kể hàng chục đội phẫu thuật, bệnh xá sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn và các tổ quân y tuyến trước.

3- Bản tổng hợp hé mở số phận hơn 7.000 liệt sĩ

Giá trị đặc biệt nhất của tài liệu do bác sĩ Nguyễn Sanh Dân tổng hợp không chỉ nằm ở danh sách phiên hiệu. Tài liệu còn ghi lại quy mô thu dung, địa điểm đứng chân, người phụ trách và số thương bệnh binh, nhân viên quân y hy sinh tại nhiều bệnh viện.

Bảng tổng hợp 34 bệnh viện ghi nhận: 4.727 thương binh, bệnh binh hy sinh; 368 cán bộ, nhân viên quân y hy sinh; tổng cộng 5.095 liệt sĩ; tại thời điểm tổng hợp mới tìm được hoặc quy tập 187 hài cốt; còn khoảng 4.908 hài cốt được xác định là chưa tìm thấy tại các căn cứ bệnh viện.

Trong đó, Bệnh viện K71B có số người hy sinh lớn nhất được ghi nhận trong bảng: 737 liệt sĩ, gồm 705 thương bệnh binh và 32 cán bộ, nhân viên quân y. Từ năm 2004 đến 2008, các lực lượng đã tìm kiếm, quy tập được 182 hài cốt tại khu vực này; sau đó đưa về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Tân Biên, Đồi 82. Theo bản tổng hợp, vẫn còn khoảng 555 liệt sĩ của K71B chưa được tìm thấy.

Một số địa chỉ khác cũng có số người hy sinh rất lớn:

- K76A: 244 thương bệnh binh và 80 nhân viên quân y, tổng cộng 324 liệt sĩ;

- K72: 408 thương bệnh binh và 14 nhân viên quân y, tổng cộng 422 liệt sĩ;

- K116: 200 thương bệnh binh và 12 nhân viên quân y, tổng cộng 212 liệt sĩ;

- K71C: 200 thương bệnh binh và 12 nhân viên quân y, tổng cộng 212 liệt sĩ;

- K24: 200 thương bệnh binh và 20 nhân viên quân y, tổng cộng 220 liệt sĩ;

- K79A: 200 thương bệnh binh và 15 nhân viên quân y, tổng cộng 215 liệt sĩ;

- K70: 180 thương bệnh binh và 5 nhân viên quân y, tổng cộng 185 liệt sĩ;

- K23: 180 thương bệnh binh; K81: 160 thương bệnh binh và 5 nhân viên quân y, tổng cộng 165 liệt sĩ.

Đối với 13 đội điều trị cơ động, tài liệu ước tính mỗi đội có ít nhất khoảng 150 thương bệnh binh hy sinh. Phần thuyết minh ghi nhận khoảng 1.900 thương bệnh binh và hơn 100 cán bộ, nhân viên quân y hy sinh tại hệ thống này; mới có ba đội tìm được một phần hài cốt, còn khoảng 2.000 liệt sĩ chưa được quy tập.

Phần kết luận của tài liệu nêu tổng số hài cốt chưa tìm được tại 34 bệnh viện và 13 đội điều trị là 7.195 liệt sĩ, gồm: 6.727 thương bệnh binh; 468 cán bộ, nhân viên quân y.

Tuy nhiên, giữa phần diễn giải và phép cộng trong bảng còn có một độ chênh cần tiếp tục kiểm tra. Bản thuyết minh ghi “1.900 thương bệnh binh và trên 100 nhân viên quân y” tại 13 đội điều trị, trong khi tổng số cuối tài liệu tương ứng với việc cộng thêm khoảng 2.000 thương bệnh binh và 100 nhân viên quân y. Vì vậy, con số 7.195 cần được coi là số liệu do tác giả tổng hợp tại thời điểm lập tài liệu, chưa phải kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng, nhưng rất đáng để chúng ta lưu tâm, nhất là trong "Chiến dịch 500 ngày đêm...".

Điều đó không làm giảm giá trị của tài liệu. Trái lại, sự chênh lệch cho thấy sự cần thiết phải đối chiếu từng bệnh viện, đội điều trị với hồ sơ liệt sĩ, danh sách tử sĩ, báo cáo quân y, sơ đồ chôn cất, kết quả quy tập và ký ức nhân chứng.

Con số hơn 9.000 liệt sĩ thường được nhắc tới tại Nhà tưởng niệm Quân dân y Miền B2 có phạm vi rộng hơn. Nó có thể bao gồm thương bệnh binh, cán bộ quân–dân y tại các bệnh viện, đội điều trị, bệnh xá, đội phẫu thuật và những cơ sở cứu chữa khác trong toàn chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trong khi đó, con số 7.195 của bác sĩ Nguyễn Sanh Dân tập trung vào số người chưa tìm được hài cốt thuộc 34 bệnh viện và 13 đội điều trị được nêu trong bản tổng hợp.

4- Mỗi phiên hiệu là một đầu mối tìm kiếm

Đối với nhiều gia đình, giấy báo tử chỉ ghi vắn tắt: “Hy sinh tại bệnh viện”, “an táng tại mặt trận phía Nam”, “Bệnh viện K71”, “K76” hoặc một phiên hiệu đã không còn tồn tại. Trong khi đó, các bệnh viện thường xuyên di chuyển, chia thành phân viện hoặc đổi tên để bảo đảm bí mật. Ví dụ:

- K71 không chỉ là một địa điểm duy nhất mà có K71A, K71B và K71C;

- K76 gồm các phân viện K76A, K76B, K76C, K76D, K76E; K79 có các phân viện từ K79A đến K79E.

Nếu chỉ biết phiên hiệu gốc mà không xác định đúng phân viện, thời gian và địa bàn đứng chân, phạm vi tìm kiếm sẽ rất rộng.

Vì vậy, mỗi bệnh viện và đội điều trị cần được xây dựng thành một hồ sơ tra cứu riêng, gồm: phiên hiệu và các tên gọi từng sử dụng; đơn vị chủ quản; người chỉ huy, viện trưởng hoặc đội trưởng; thời gian và các địa điểm từng đứng chân; đơn vị chiến đấu được tiếp nhận, cứu chữa; số thương bệnh binh và nhân viên quân y hy sinh; vị trí nghĩa trang, sơ đồ chôn cất; kết quả quy tập qua từng thời kỳ; danh sách nhân chứng và những khu vực còn nghi vấn.

Đặc biệt, cần sớm số hóa toàn bộ bản tổng hợp của bác sĩ Nguyễn Sanh Dân; đối chiếu với hồ sơ đang lưu giữ tại Quân khu 7, Bộ Chỉ huy Quân sự các địa phương, Ban Liên lạc truyền thống Quân y Miền B2 và hồ sơ của các đoàn hậu cần 81, 82, 83, 84, 86, 100, 230, 340 cùng những đơn vị liên quan.

Từ danh sách 34 bệnh viện và 13 đội điều trị, có thể xây dựng một bản đồ số nhiều lớp. Mỗi điểm trên bản đồ không chỉ ghi tên bệnh viện mà còn thể hiện các lần di chuyển, thời gian hoạt động, những đơn vị được cứu chữa, số người hy sinh và tình trạng quy tập. Khi kết hợp với ảnh vệ tinh, bản đồ quân sự cũ, tọa độ, hồ sơ đối phương và lời kể nhân chứng, các khu vực nghi vấn có thể được thu hẹp đáng kể.

Đó là công việc thiết thực hưởng ứng “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.”

5- Để những người đã cứu chữa cho đồng đội cũng được gọi tên

Các bệnh viện quân y giữa rừng năm xưa đã cứu chữa hàng vạn cán bộ, chiến sĩ. Nhưng chính những người thầy thuốc, y tá, dược sĩ, hộ lý và nhân viên phục vụ cũng phải đối mặt với bom B-52, pháo kích, biệt kích, bệnh tật và đói rét. Có người vừa băng bó cho thương binh, vừa cầm súng bảo vệ bệnh viện. Có người đã nằm lại ngay bên căn hầm từng dùng làm phòng mổ.

Việc bàn giao hồ sơ 21 liệt sĩ tại K76A vì thế không chỉ mở ra hy vọng cho 21 gia đình. Nó còn nhắc chúng ta rằng quanh mỗi bệnh viện dã chiến có thể là một nghĩa trang chưa được tìm thấy; sau mỗi phiên hiệu quân y là hàng trăm số phận đang chờ được xác minh.

Bản tổng hợp của Đại tá, TS, BS Nguyễn Sanh Dân là tư liệu đặc biệt quý giá. Nhưng để biến tư liệu thành kết quả tìm kiếm, cần sự phối hợp của các cơ quan quân đội, chính quyền địa phương, nhà nghiên cứu, dự án quốc tế, cựu chiến binh và thân nhân liệt sĩ.

Mỗi ký ức, dù chỉ là tên một con suối, một ngọn đồi, một bến vượt, một rẫy cũ hay hướng đi từ căn cứ bệnh viện đến khu mai táng, đều có thể trở thành chìa khóa.

Bởi phía sau những phiên hiệu K71B, K76A, K79D, K72 hay một đội điều trị không còn dấu tích trên thực địa là những người lính đã sống những giờ cuối cùng trong vòng tay đồng đội. Họ cần được tìm lại, được xưng tên và được trở về quê hương – nơi gia đình vẫn dành cho họ một chỗ trang trọng trên bàn thờ và một niềm mong đợi chưa bao giờ tắt.

Hà Nội, 27/7/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)

Đặng Vương Hưng

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/ho-so-so-482026-tu-ho-so-ve-benh-vien-k76a-can-mo-rong-hanh-trinh-tim-kiem-hon-7000-liet-si-quan-y-mien-b2-a34370.html