Hỗ trợ sản xuất, kết nối thị trường thúc đẩy quá trình thoát nghèo ở Thái Nguyên
Tập trung hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và tạo việc làm cho người nghèo, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, Thái Nguyên đang khai thác hiệu quả Chương trình Mục tiêu quốc gia, đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh và hình thành nền tảng cho giai đoạn 2026 - 2030.
Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 10,29% xuống 5,46%
Theo thống kê mới nhất của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, đến đầu năm 2025, toàn tỉnh có 23.061 hộ nghèo, chiếm 5,46% tổng số hộ dân, cùng 15.482 hộ cận nghèo, tương ứng 3,67%.
Trong nhóm hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 19.354 hộ, tương đương 83,93% tổng số hộ nghèo. Những con số này cho thấy giảm nghèo ở Thái Nguyên về bản chất là câu chuyện nâng cao đời sống cho vùng đồng bào dân tộc, miền núi, nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hạ tầng còn nhiều hạn chế.
Giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tại Thái Nguyên được phân bổ tổng nguồn vốn hơn 1.167 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 1.113 tỷ đồng, ngân sách địa phương hơn 53 tỷ đồng. Đi cùng nguồn lực là 136 văn bản chỉ đạo, kế hoạch, nghị quyết được ban hành, giúp triển khai thống nhất từ cấp tỉnh đến cơ sở, tạo khung điều hành rõ ràng cho các sở, ngành, địa phương.
Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về cơ chế và nguồn lực, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều của Thái Nguyên đã giảm nhanh và tương đối vững. Đầu năm 2022, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh ở mức 10,29%, đến cuối năm 2024 chỉ còn 5,46%, giảm 4,83 điểm phần trăm. Tính bình quân, mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,61 điểm phần trăm, vượt mục tiêu giai đoạn.

Theo dự ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh Thái Nguyên sẽ hỗ trợ kết nối việc làm cho khoảng 8.500 lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo.
Phân tích theo địa bàn cũng cho thấy tốc độ giảm nghèo ở 2 tỉnh cũ trong giai đoạn hợp nhất có sự khác biệt nhưng đều vượt mục tiêu đề ra. Khu vực Bắc Kạn cũ đã giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 27,37% xuống còn 19,46% vào cuối năm 2024, bình quân giảm 2,63 điểm phần trăm mỗi năm, cao hơn mục tiêu 2 - 2,25 điểm phần trăm/năm.
Khu vực Thái Nguyên cũ giảm từ 6,14% xuống 2,04% vào cuối năm 2024, bình quân 1,37 điểm phần trăm/năm, đạt và vượt kế hoạch. Từ nền tảng này, tỉnh đặt mục tiêu đến cuối 2025 tiếp tục đưa tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 4,65%, qua đó tạo dư địa để bước vào giai đoạn 2026 - 2030 với yêu cầu cao hơn về chất lượng giảm nghèo.
Trọng tâm trong triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia tại Thái Nguyên là hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế bền vững cho người dân thay vì dừng lại ở hỗ trợ mang tính trợ cấp ngắn hạn.
Toàn tỉnh đã triển khai 642 dự án hỗ trợ sản xuất, thu hút sự tham gia của 13.330 hộ dân. Trong số này có 6.811 hộ nghèo, 3.791 hộ cận nghèo và 2.728 hộ mới thoát nghèo. Việc các nhóm đối tượng này được tham gia trực tiếp vào chuỗi hoạt động của dự án giúp họ vừa tiếp cận giống cây, con, vật tư, vừa được hướng dẫn kỹ thuật, quản lý sản xuất, kết nối thị trường.
Các mô hình nông nghiệp, lâm nghiệp được lựa chọn trên cơ sở phù hợp với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng từng khu vực, như trồng rừng kinh tế, cây ăn quả đặc sản, phát triển chăn nuôi hàng hóa, liên kết sản xuất theo chuỗi. Cách làm này giúp người dân nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa gắn với yêu cầu của thị trường. Khi hiệu quả sản xuất tăng lên, thu nhập của hộ dân dần ổn định, giảm phụ thuộc vào hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Điểm nhấn trong quá trình tổ chức thực hiện là 100% hộ nghèo và hộ cận nghèo có khả năng lao động, có nhu cầu tại các địa bàn huyện nghèo cũ đều được hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất. Ngoài việc cấp giống, cấp vốn, các chương trình còn chú trọng đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn cách tính toán chi phí, hiệu quả kinh tế.
Năng lực tự thân của người dân vì thế được củng cố, trở thành yếu tố then chốt quyết định kết quả thoát nghèo lâu dài. Nhiều hộ sau khi tham gia mô hình đã mạnh dạn mở rộng quy mô chăn nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, liên kết với doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm.
8.500 lao động được hỗ trợ kết nối việc làm
Song song với hỗ trợ sản xuất, Thái Nguyên tập trung giải quyết các thiếu hụt về dịch vụ xã hội cơ bản cho hộ nghèo, trong đó việc làm được xác định là trụ cột quan trọng nhất. Công việc ổn định, thu nhập đều đặn là điều kiện để người dân chủ động vươn lên, tránh tái nghèo khi gặp rủi ro về thiên tai, dịch bệnh hay biến động thị trường.
Theo dự ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh sẽ hỗ trợ kết nối việc làm cho khoảng 8.500 lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo. Các giải pháp được triển khai gồm tư vấn hướng nghiệp, giới thiệu việc làm, tổ chức các phiên giao dịch lao động, phối hợp với doanh nghiệp tuyển dụng ngay tại địa phương, đồng thời đưa lao động vào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Bên cạnh kết nối việc làm trong nước, tỉnh cũng đẩy mạnh xuất khẩu lao động như một kênh tạo sinh kế bền vững. Dự kiến khoảng 2.000 lao động tại các huyện nghèo cũ sẽ được hỗ trợ đào tạo nghề, trong đó có 1.800 lao động được đào tạo để chuẩn bị đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Khi tham gia các chương trình này, người lao động không chỉ nhận mức thu nhập cao hơn mà còn được rèn luyện tác phong công nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ. Sau khi trở về địa phương, họ có điều kiện tích lũy vốn, kinh nghiệm, có thể khởi sự kinh doanh hoặc đảm nhận vị trí việc làm tốt hơn ngay tại quê hương.
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình lồng ghép nguồn vốn giữa các Chương trình Mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án khác và nguồn lực địa phương vẫn nảy sinh không ít vướng mắc. Sự khác biệt về đối tượng, tiêu chí, cơ chế quản lý của từng chương trình khiến địa phương gặp khó trong bố trí, sử dụng nguồn vốn sao cho linh hoạt mà vẫn đúng quy định, tránh trùng lặp về hỗ trợ hoặc bỏ sót nhóm yếu thế.
Để tháo gỡ “nút thắt” này, HĐND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Nghị quyết số 20/2022/NQ-HĐND ngày 28/10/2022, thiết lập cơ chế lồng ghép thống nhất giữa các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án liên quan. Nghị quyết được đánh giá là bước đi mang tính đột phá về thể chế ở cấp tỉnh, tạo cơ sở để các sở, ngành và địa phương chủ động phối hợp, phân công rõ ràng đầu mối, tránh dàn trải nguồn lực.
Cơ chế mới cho phép rà soát, xác định chính xác từng nhóm đối tượng, từng địa bàn ưu tiên, qua đó hạn chế tình trạng hỗ trợ trùng lặp ở một nơi và thiếu hụt ở nơi khác. Việc lồng ghép hiệu quả cũng giúp tăng hệ số lan tỏa của mỗi đồng vốn ngân sách, tạo điều kiện để Thái Nguyên vừa đạt mục tiêu giảm nghèo, vừa gắn giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh bền vững.
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, định hướng của tỉnh là tiếp tục giữ vững đà giảm nghèo đã đạt được, đồng thời nâng cao chất lượng giảm nghèo, chú trọng yếu tố bền vững, tránh tái nghèo.
Theo đó, nguồn lực nhà nước vẫn đóng vai trò “vốn mồi”, nhưng trọng tâm sẽ là khuyến khích người dân, doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị sản xuất, dịch vụ, phát huy tiềm năng của vùng trung du, miền núi.












