Hòa thượng Chuyết Công giảng pháp trên nền tảng học vấn vững chắc
Qua "Chuyết Công ngữ lục", chúng ta thấy vị tăng sĩ này có nền tảng học vấn chắc chắn, sử dụng nền học vấn ấy vào việc giảng đạo, thuyết pháp của mình thật đắc địa.

Tác giả: Nguyễn Quang Khải
Phật Tích - Trung tâm Phật giáo cổ nhất ở Việt Nam
Cuốn sách tổng hợp những nghiên cứu, khảo cứu có giá trị của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về chùa Phật Tích, làm nổi bật những giá trị tiêu biểu, độc đáo và đặc sắc về lịch sử, văn hóa của hệ thống di tích; những đóng góp quan trọng về tôn giáo, lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật… của trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa này trải qua chiều dài lịch sử dân tộc.
Hòa thượng Chuyết Công giảng pháp trên nền tảng học vấn vững chắc
Qua "Chuyết Công ngữ lục", chúng ta thấy vị tăng sĩ này có nền tảng học vấn chắc chắn, sử dụng nền học vấn ấy vào việc giảng đạo, thuyết pháp của mình thật đắc địa.
Chuyết Công ngữ lục là tác phẩm ngữ lục do Minh Hành tại tại, một vị đại đệ tử của Chuyết Công biên soạn vào thế kỷ XVII. Văn bản được thể hiện ở dạng bản in gỗ với nét chữ còn sắc nét, dễ đọc. Cuốn cách có kích thước 29 cm x 16 cm bằng chất liệu giấy dó, gồm ba quyển. Phần mở đầu gồm 10 tờ, mỗi tờ có 14 hàng, mỗi hàng có 13 chữ có tiêu đề Tổ sư xuất thế thực lục.
Quyển 1 và quyển 2 có 26 tờ (trong đó, quyển 1 có 6 tờ), mỗi tờ có 22 hàng, mỗi hàng có 20 chữ, tiêu đề là Chuyết Chuyết tổ sư ngữ lục.
Quyển 3 có 22 tờ, trừ tờ 2a có năm hàng, tờ 8a và tờ 11a có bốn hàng và tờ 22a có tám hàng, các tờ còn lại đều có 22 hàng, mỗi hàng có 20 chữ, tiêu đề là Chuyết Chuyết tổ sư ngữ lục hoặc vấn (tất cả các tờ giấy in, khi đóng thành sách đều được gấp đôi). Ba quyển trên được đóng thành một tập, với tổng số khoảng 21.600 chữ.
Trên cơ sở nội dung Chuyết Công ngữ lục, chúng tôi muốn cung cấp đến quý vị hiểu thêm về hành trạng tổ sư Chuyết Chuyết của ngôi “đại thiền tự” nổi tiếng này.
1. Tiểu sử Chuyết Công
Theo Chuyết Công ngữ lục, ngài húy là Viên Văn, hiệu là Chuyết Chuyết, người Tiệm Sơn, Hải Trừng, Thanh Chương, Mân Điền (Trung Quốc), họ Lý, tổ phụ tên là Kiều, cha là Nhược Lâm, mẹ họ Sái. Bà mẹ mộng thấy ở rốn vọt ra một bông sen vàng mà có thai đúng ba năm, vào giờ Sửu ngày Giáp Tuất, tức mồng 2 tháng Hai năm Canh Dần, niên hiệu Vạn Lịch thứ 17 (1590) giáng sinh và đặt tên con là Tân Liên. Năm ngài lên 5 tuổi, mẹ mất. Năm lên 7 tuổi, cha mất. Tổ phụ phải dắt ngài đến nhờ người thím dâu nuôi dưỡng.
Ngài thuở nhỏ thông minh dĩnh ngộ, lớn lên bác thông kinh sử, chăm chỉ học hành, tĩnh tập trong chùa Tiệm Sơn.
Có vị hành giả thấy sư khạc ra máu, bèn tiến đến bạch với Trưởng lão. Trưởng lão nghe nói thế thì thương, liền đến xem và hỏi rằng: “Thư sinh làm sao mà có bệnh này?”. Sư đáp: “Đọc sách”. Tăng hỏi: “Đọc sách thì có sự nghiệp gì vậy?”. Sư đáp: “Trí quân, trạch dân”. Tăng khen: “Thiện tai! Thiện tai! Ý chí xung thiên! Không phải người tham danh lợi!...”.
Sau đó, ngài bỏ Nho, học Phật và đến am Bồ Đề ở chùa Nam Sơn yết kiến Trạng nguyên tăng Đà Đà pháp sư.
Sư được khai ngộ vào năm Vạn Lịch thứ 35 (1608), thụ tỳ kheo vào năm Canh Thân (1620). Biết được 250 Vô tướng giới, giữ 84.000 bí mật môn, vân du thập phương, tùy hóa độ nhân đến nước Miên. Các đại thần nước này dùng lễ đối với sư, nhiều người cung kính quy y. Sau đó, do người trong nước bị cá sấu làm hại, sư bèn viết sớ thả xuống nước, cá sấu tự nhiên đi mất. Người dân ca tụng ân đức sư. Sư tức thì hoằng dương phật pháp, quảng độ chúng sinh. 16 năm tác kệ. Có người cáo với đại vương để sư được yết kiến. Sư không ở lại nhận ân mà trở về. Các đại thần văn võ tặng rất nhiều vàng bạc nhưng sư không nhận.
Sư vân du đến Quảng Nam, Thuận Hóa (tức địa phận Thừa Thiên Huế sau này) thuyết pháp đến bảy, tám năm, độ nhân phổ lợi chúng sinh. Các gia đình giàu có xin được sư giải cho hết nạn. Đến Cổ Bàng thì gặp Minh Hành, sư truyền thụ pháp bảo, tâm pháp bất nhị cho. Sau đó, sư cùng đệ tử Minh Hành về kinh. Chúa Trịnh tặng danh hiệu là Sư tổ chùa Phật Tích để bốn phương đều sùng hưng chùa Phật Tích.
Năm Quý Dậu (1633), sư về chùa Khán Sơn, thành Thăng Long. Hoàng thái hậu tụng kinh Kim Cương, thỉnh sư về chùa Ninh Phúc. Tháng Ba năm Giáp Thân (1644), sư giảng nghĩa kinh Niết bàn tại chùa Long Ân.
Ngày 11, sư dùng nước thơm tắm rửa, thân viết thụ ký di chúc cho đệ tử trưởng là Minh Hành nắm giữ đại giáo truyền đăng nối tiếp. Năm 1644, ngài viên tịch, thọ 55 tuổi.

Nhục thân thiền sư Chuyết Công. Ảnh: VTCNews.
2. Nội dung thuyết giảng của Chuyết Công
Quyển 1 và quyển 2 có tiêu đề Chuyết Chuyết tổ sư ngữ lục. Với độ dài khoảng 11.440 chữ, quyển 1 và quyển 2 được tác giả ghi chép lại các bài thuyết pháp của Chuyết Công, trong đó ngài đã thể hiện tư tưởng Phật học của mình trên nhiều phương diện: bồ đề, pháp giới, về các nguyên tố hóa học cấu tạo nên cơ thể con người, về các hình thức sản sinh ra muôn loài, về phương pháp học đạo và lợi ích của việc học đạo, về bản tâm, về tam không, về mối quan hệ giữa giác và tình, về tứ niệm xứ, về mối quan hệ và lợi ích của niệm phật, niệm pháp, niệm tăng, về hữu vô tam muội, về mối quan hệ giữa phật và pháp, về hiệu quả khác nhau đối với mỗi đối tượng khác nhau khi nghe thuyết pháp, về quán tự tại...
Những vấn đề trên mặc dù đều nằm trong nội dung giáo lý của Phật giáo, nhưng với trình độ quảng bác cả về Nho, Phật, Lão và đặc biệt là cách nhìn biện chứng, Chuyết Công đã khiến người đọc nhận thấy ở đây có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Nho giáo và Phật giáo ở một nhà tu hành.
Khi nói về quy y, Chuyết Công nói: “Cửa Khổng lấy tam cương ngũ thường; họ Thích lấy tam quy ngũ giới, tên tuy có khác nhau nhưng lý thì là một. Quy y phật là sợ thiên mệnh, quy y pháp là sợ lời nói của thánh nhân, quy y tăng là sợ đại nhân[1]. Khi đề cập ngũ giới của đạo Phật, Chuyết Công đối chiếu với ngũ thường của đạo Nho. Ngài nói: “Cũng như ngũ thường của thế gian, không sát sinh là nhân, không trộm cắp, không tà dâm là lễ, không vọng ngôn ký ngữ là tín, không uống rượu là trí”[2].
Hay bàn về giặc bên trong (nội tặc), Chuyết Công nói: “Nội tặc này là rất khó phòng bị. Duy có bậc trí giả là có thể xét tìm giặc trong thân tâm mình, để chế khắc, dốc lòng tu thân. Vì vậy nói: Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Nhưng trong đó chưa có ai tu thân lại không xuất phát từ minh tâm, chưa có ai trong minh tâm lại không xuất phát từ hiểu biết thế giới. Vì vậy nói: chí tri tại cách vật”.
Khi thuyết giảng về vấn đề học đạo, minh tâm, kiến tính, thành Phật..., Chuyết Công dẫn câu trong Kinh Thư: “Bản lập nhi đạo sinh” nhằm giải thích cho rõ thêm ý nghĩa của việc học đạo...
Trong 14 vấn đề mà Chuyết Công trình bày trong bài giảng của mình, vấn đề nào cũng được Chuyết Công so sánh học thuyết của Phật giáo với học thuyết của Nho gia để củng cố quan điểm của mình. Ngài cũng nhiều lần dẫn Luận ngữ và các kinh điển khác của Nho gia.
Với cách thể hiện như trên, chúng ta thấy vị tăng sĩ này có nền tảng học vấn Nho học rất chắc chắn, biết sử dụng nền học vấn ấy vào việc giảng đạo, thuyết pháp của mình thật đắc địa.
[1]. Xem Chuyết Công ngữ lục, quyển 1, tờ 26.
[2]. Chuyết Công ngữ lục, quyển 2, tờ 1b.
